NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
(Chuyên đề đã được rút gọn và
thông qua Tổ tư vấn pháp luật Tòa án quân sự Quân khu 2)
I. TRANH CHẤP ĐẤT QUỐC PHÒNG VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT QUỐC PHÒNG
1. Tranh chấp đất quốc phòng
1.1
Khái niệm: Là
tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa người sử dụng đất quốc phòng với các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài quân đội [1].
Người
sử dụng đất quốc phòng là cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng được giao và
công nhận quyền quản lý, sử dụng đất quốc phòng theo quy định tại khoản 1 Điều
50 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai[2].
Cụ thể:
- Các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng đối với đất cho các đơn
vị đóng quân; đất làm căn cứ quân sự; đất làm các công trình phòng thủ quốc
gia, trận địa và các công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; nhà công vụ
của Quân đội; đất thuộc các khu vực mà Chính phủ giao nhiệm vụ riêng cho Bộ
Quốc phòng quản lý, bảo vệ và sử dụng.
- Các đơn vị trực tiếp sử dụng đất đối với đất làm ga, cảng
quân sự; đất làm các công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ phục vụ trực
tiếp cho quốc phòng; đất làm kho tàng của Quân đội; đất làm trường bắn, thao
trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; đất xây dựng nhà trường, bệnh viện, nhà
an dưỡng của Quân đội; đất làm trại giam giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
do Bộ Quốc phòng quản lý.
- Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Ban Chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Đồn biên phòng
đối với đất xây dựng trụ sở[3].
Như vậy, tranh chấp đất quốc phòng xảy
ra khi các cơ quan, đơn vị quân đội nêu trên thực hiện quyền và nghĩa vụ của
mình trên đất được giao quy hoạch sử dụng vào mục đích quốc phòng với các tổ chức,
cá nhân khác trong và ngoài quân đội(sau
đây gọi chung là bên tranh chấp).
1.2.
Đặc trưng tranh chấp đất quốc phòng
Đất quốc phòng bị tranh chấp là đất nằm
trong khu vực quy hoạch sử dụng vào mục đích quốc phòng nhưng chưa có nhu cầu sử
dụng ngay cho mục đích quốc phòng; do người sử dụng đất không chủ động, phối hợp
với chính quyền địa phương trong việc xác định mốc giới, rà soát, quản lý đất
hoặc do hành vi cố ý của một số tổ chức, cá nhân trong và ngoài quân đội hoặc sự
thiếu trách nhiệm của cấp có thẩm quyền trong việc cấp giấy chứng nhận đất dẫn
đến có thể xảy ra một số dạng tranh chấp như sau:
- Người sử dụng đất quốc phòng cho quân
nhân mượn xây nhà ở tạm trong thời gian công tác nhưng khi thôi phục vụ tại ngũ
không bàn giao lại cho đơn vị quản lý, sử dụng.
- Một số tổ chức,
cá nhân trong và ngoài quân đội lấn chiếm, sử dụng đất quốc phòng không đúng mục
đích trong thời gian dài (xây dựng nhà ở
cố định, xưởng, trồng cây lâu năm…) thậm chí có
trường hợp cho thuê, mua bán đất lấn chiếm…
- Đất quốc phòng bị cấp chồng quyền sử dụng
đất.
2. Thủ tục giải quyết tranh chấp đất quốc phòng
Khi giải quyết tranh chấp, lấn chiếm, cấp chồng đất
quốc phòng thì cơ quan, đơn vị sử dụng đất quốc phòng (người sử dụng đất quốc phòng) tiến hành từng bước như sau:
2.1.
Hòa giải tại đơn vị
Mặc dù, việc tự hòa giải
giữa các bên trong tranh chấp đất quốc phòng không phải là trình tự thủ tục bắt
buộc và không được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử
dụng đất quốc phòng của Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, việc tự hòa giải trong tranh
chấp đất đai nói chung và tranh chấp đất quốc phòng nói riêng được Nhà nước
khuyến khích; đồng thời, việc tự hòa giải thành giúp rút ngắn thời gian giải
quyết các tranh chấp đất quốc phòng. Do đó, TAQSQK2 đề nghị người sử dụng đất quốc
phòng nên có bước tự hòa giải với bên
có tranh chấp. Các cơ quan, đơn vị có
thể tham khảo trình tự, thủ tục như sau:
- Người sử dụng đất quốc phòng sắp xếp,
tổ chức buổi hòa giải và thông báo, động viên bên tranh chấp tham gia. Trường hợp, bên tranh chấp từ chối đến
tham gia buổi tự hòa giải thì người sử dụng đất quốc phòng làm thủ tục đề nghị
UBND cấp xã hòa giải (như tiểu mục 2.2).
+ Địa điểm: Tại đơn vị hoặc nơi
xảy ra tranh chấp hoặc nơi khác thuận tiện cho các bên tham gia.
- Thành phần: Đại diện người sử dụng đất
quốc phòng (Chủ trì cuộc họp); Ban
CHQS cấp huyện nơi
có đất tranh chấp và bên tranh chấp.
-
Nội dung phiên hòa giải:
+ Người chủ trì phiên
hòa giải cần giải thích rõ các quy định của pháp luật về đất đai, đất quốc
phòng và hành vi lấn chiếm, sử dụng đất quốc phòng sai mục đích là không đúng với
quy định của pháp luật.
+ Trường hợp gia
đình quân nhân được đơn vị hỗ trợ cho mượn đất để xây dựng nhà ở tạm trong thời
gian công tác thì cần giải thích rõ cho họ về việc mượn đất này hoàn toàn khác
với chế độ, chính sách phát triển nhà ở, đất ở chính sách và giải quyết chính
sách nhà ở, đất ở cho quân nhân theo Thông tư 177/2011/TT-BQP ngày 19/9/2011 của
Bộ Quốc phòng (cho mượn đất ở sử dụng lâu
dài và chính quyền địa phương sẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia
đình quân nhân nếu đủ điều kiện theo pháp luật đất đai đang có hiệu lực).
Do đó, khi quân nhân được mượn đất không còn nhu cầu sử dụng hoặc đã nghỉ công
tác theo chế độ thì phải bàn giao trả lại đất cho đơn vị để thực hiện nhiệm vụ
quốc phòng. Đồng thời, việc cho mượn đất quốc phòng để xây dựng nhà ở, trồng
cây lâu năm hoặc các công trình khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép
là không đúng thẩm quyền của đơn vị và quy định của pháp luật.
+ Yêu cầu bên có tranh chấp thực hiện việc
di dời và trả lại mặt bằng đất cho đơn vị quản lý, sử dụng vào mục đích quốc
phòng. Trường hợp cần thiết, theo điều kiện của từng đơn vị có thể hỗ trợ, giúp
đỡ gia đình thực hiện việc di dời tài sản, giải phóng mặt bằng (nếu có).
+ Đối với tài sản trên đất thuộc sở hữu
của bên đang sử dụng trái phép mà không thể di dời được thì đơn vị có thể thỏa
thuận về giá trị tài sản trên đất; nếu đơn vị có nhu cầu thì mua lại sử dụng;
không có nhu cầu thì không nhất thiết phải mua lại.
- Phiên hòa giải phải được lập biên bản
và có chữ ký xác nhận của các bên tham gia.
- Trường hợp
tự hòa giải thành thì người sử dụng đất quốc phòng không phải thực hiện các bước
hòa giải, khởi kiện tiếp theo (kết thúc
tranh chấp). Nếu tự hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới,
người sử dụng đất (xảy ra khi có chồng lấn
đất quốc phòng) thì người
sử dụng đất quốc phòng gửi văn bản đề nghị giải quyết, biên bản hòa giải và các
tài liệu kèm theo (như bản sao Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của 02 bên, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng…) đến Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất tranh chấp để trình UBND tỉnh
quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo thẩm
quyền[4].
2.2.
Hòa giải tại UBND xã nơi có đất tranh chấp
Trường
hợp không tự hòa giải được thì cơ quan, đơn vị có trách nhiệm phối hợp với Ban
CHQS cấp huyện, UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp và bên tranh chấp tiến hành
hòa giải[5].
Trình tự được thực hiện theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai và Điều 88 Nghị
định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất
đai. Cụ thể:
Bước 1:
Người sử dụng đất quốc phòng gửi văn bản đề nghị giải
quyết tranh chấp đất đai tại UBND xã nơi có đất tranh chấp và các tài liệu có
liên quan kèm theo (nếu có). Hình
thức gửi văn bản và các tài liệu kèm theo có thể qua đường bưu điện hoặc nộp trực tiếp
tại UBND xã. Đồng thời, gửi văn bản cho Ban CHQS cấp huyện nơi có đất để phối
hợp giải quyết.
Bước 2.
UBND cấp xã thực hiện các nội dung
sau:
- Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên
nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung
cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất.
- Thành lập Hội đồng hòa giải tranh
chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó
Chủ tịch UBND là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã,
phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp
đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống
lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối
với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn.
Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội
Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
- Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự
tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất
đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc
hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường
hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc
hòa giải không thành.
- Kết quả
hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có đầy đủ nội dung; chữ ký của Chủ tịch
Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia
hòa giải và phải đóng dấu
của UBND cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay
cho các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã
theo đúng quy định pháp luật.
Bước 3:
Sau thời hạn 10 ngày kể từ
ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản
về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa
giải thành thì Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để
xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành
hoặc không thành.
- Trường hợp hòa giải thành mà
có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất, người sử dụng đất (xảy ra khi có chồng lấn
đất quốc phòng) thì UBND cấp
xã gửi biên bản hòa giải thành đến Sở Tài nguyên và Môi trường để trình UBND cấp
tỉnh quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật[6].
- Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau
khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì UBND xã lập biên bản
hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp
theo (UBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án).
* Thời hạn giải quyết:
- Thời hạn kiểm tra hồ sơ: Trường
hợp nhận hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì trong thời gian tối đa 03 ngày,
UBND xã thông báo nộp bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định.
- Thời hạn giải quyết: Không quá 45
ngày; đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội khó khăn thì thời gian thực hiện được tăng thêm 15 ngày[7].
2.3. Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND
tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất tranh chấp
Trường hợp tranh chấp đất quốc phòng đã được hòa giải
tại UBND cấp xã mà không thành thì tùy trường hợp cụ thể, đơn vị lựa chọn 1
trong 2 hình thức giải quyết là:
- Trường hợp
đơn vị đã được cấp GCN quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì
do Tòa án nhân dân giải quyết;
- Trường hợp
không có GCN quyền sử dụng đất thì đơn vị lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất
đai theo quy định sau đây:
+ Nộp đơn
yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp tỉnh nơi có đất;
+ Khởi kiện
tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất theo quy định của pháp luật về tố tụng
dân sự[8];
2.3.1. Yêu
cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp tỉnh
Bước
1:
Người sử dụng đất quốc phòng gửi đề nghị giải quyết tranh
chấp về UBND cấp tỉnh nơi có đất tranh chấp và cấp trên trực tiếp. Hồ sơ bao
gồm các văn bản sau:
+ Văn
bản đề nghị giải quyết tranh chấp;
+ Bản
sao hồ sơ pháp lý và các tài liệu có liên quan chứng minh đất bị tranh chấp đã
được quản lý, sử dụng vào mục đích quốc phòng qua từng thời kỳ;
+ Bản
sao các văn bản: Biên bản làm việc với bên tranh chấp, các văn bản trong quá
trình hòa giải; biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp, lấn chiếm, biên
bản cuộc họp giữa các ban ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp
đất đai đối với trường hợp hòa giải không thành và các văn bản của cơ quan và
chính quyền cấp xã có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp[9].
Bước 2:
UBND cấp tỉnh có trách nhiệm
thực hiện các nội dung sau:
- Tổ chức thẩm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải giữa
các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải
quyết tranh chấp đất đai (nếu cần thiết) và hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch
UBND tỉnh ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành quyết định giải quyết
tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành, gửi cho các bên tranh
chấp, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan.
- Trường hợp các bên không đồng ý với quyết định giải
quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính[10].
Bước 3:
Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành
phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không
chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.
* Thời hạn giải quyết:
-
Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là
không quá 60 ngày.
-
Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là
không quá 90 ngày.
-
Cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai là không quá 30
ngày[11].
2.3.2. Khởi kiện tại TAND cấp huyện (theo trình tự thủ tục tố
tụng dân sự)
Bước 1: Nộp hồ sơ
khởi kiện
- Hồ sơ khởi kiện bao gồm:
+ Đơn khởi kiện.
+ Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có).
+ Biên bản hòa giải có chứng nhận của UBND xã và có chữ ký
của các bên tranh chấp.
+ Giấy tờ của người sử dụng đất quốc phòng: Giấy ủy quyền (trường hợp được ủy quyền), các giấy tờ nhân thân khác của người sử dụng đất quốc
phòng có liên quan (CMQĐ…)
+ Tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người
sử dụng đất quốc phòng bị xâm phạm: Các chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà, hoặc lợi ích liên quan đến quyền quản lý, sử dụng đất bị xâm
phạm[12].
- Hình thức nộp đơn: Người sử dụng đất quốc phòng có thể nộp
đơn cho Tòa án bằng một trong các hình thức được quy định tại Điều 191 BLTTDS như sau: Nộp
đơn trực tiếp tại tòa; gửi đơn qua dịch vụ bưu chính; nộp đơn trực tuyến tại
Cổng thông tin điện tử của tòa án (nếu
có)
Bước
2:
Thụ lý vụ án
- Trong thời hạn 08 ngày làm việc từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án sẽ ra 1 trong các quyết
định:
+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ khởi kiện;
+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường
hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục
rút gọn và ra thông báo thụ lý vụ án gửi cho các bên.
Bước 3: Nộp tạm ứng án phí
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án nếu tranh chấp đó thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án thì trong thời hạn 07 ngày kể từ khi nhận được
thông báo thụ lý của Tòa án thì người sử dụng đất quốc phòng phải
nộp tạm ứng án phí cho Cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện
để nộp vào Kho bạc Nhà nước và nộp biên lai tạm ứng án phí cho Tòa án.
Bước
4: Chuẩn bị xét xử
Giai đoạn chuẩn bị xét xử không
quá 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Trong giai đoạn này Tòa án sẽ tổ chức
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải (thời gian theo quyết định của
Tòa án). Trình
tự phiên họp, hòa giải tại Tòa án được thực hiện theo quy định tại Điều 208,
209, 210 BLTTDS.
- Phiên họp, hòa giải được lập biên bản
theo quy định tại Điều 211 BLTTDS.
- Công nhận kết quả phiên hòa giải: Hết
thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự
nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc
một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các
bên và Viện kiểm sát cùng cấp[13].
Bước
5: Xét xử vụ án
Hết thời hạn 04 tháng, nếu vụ án chưa được
hòa giải thì Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Vụ án sẽ được xét xử
trong thời hạn 01 tháng (nếu có lý do
chính đáng có thể kéo dài 02 tháng).
Bước
6: Kháng cáo bản án sơ thẩm
Trường hợp, một hoặc hai bên không đồng
ý với quyết định của Bản án sơ thẩm thì làm đơn kháng cáo đến TAND cấp cao có
thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án (trường hợp vắng mặt tại phiên tòa có lý do chính đáng). Bản án
phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án và buộc các bên phải chấp
hành. Trường hợp, không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành án.
Bước
7: Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
bản án, quyết định của Tòa án
Trường hợp có căn cứ để kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm quy định tại Điều 326, Điều 352 BLTTDS thì một
trong hai bên kiến nghị hoặc thông báo để người có thẩm quyền xem xét kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
II. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TRANH CHẤP ĐẤT QUỐC PHÒNG TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU
Qua thực tiễn tham mưu, tư vấn cho Thủ trưởng Bộ Tư
lệnh Quân khu, cơ quan, đơn vị trong việc giải quyết một số vụ việc liên quan
đến đất quốc phòng. Tòa án quân sự Quân khu 2 đề xuất một số giải pháp nhằm hạn
chế xảy ra tranh chấp đất quốc phòng như sau:
Một là, đối với diện tích đất đã được Chính phủ phê duyệt sử dụng vào mục đích
quốc phòng, thì đơn vị được giao sử dụng đất cần thường xuyên rà soát, xây dựng
ranh giới, mốc giới đất, thường xuyên kiểm tra và có biện pháp phòng ngừa để
tránh xảy ra tình trạng lấn chiếm, sử dụng đất quốc phòng không đúng mục đích
của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài quân đội. Đồng thời, đề nghị cấp có
thẩm quyền sớm cấp GCN quyền sử dụng đất quốc phòng cho người sử dụng đất theo
quy định để hoàn thiện về mặt pháp lý và thuận tiện cho việc giải quyết tranh
chấp đất quốc phòng (nếu có).
Hai là, cấp ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên tuyên truyền cho cán bộ, chiến sĩ
trong đơn vị các quy định của pháp luật hiện hành về đất đai, đất quốc phòng và
chính sách về nhà ở cho quân nhân.
Ba là, thường xuyên quan tâm, chú trọng giải quyết tốt chế độ chính sách, nhà
ở trong quân đội theo đúng quy định pháp luật, không để tình trạng quân nhân đủ
điều kiện nhưng không được hưởng nhà ở chính sách.
Bốn là, người sử dụng đất quốc phòng không được cho mượn, thuê đất quốc phòng
sử dụng vào mục đích làm nhà ở, tăng gia, chăn nuôi, trồng cây lâu năm hoặc xây
dựng các công trình khác trên đất quốc phòng không đúng thẩm quyền dẫn đến việc
thu hồi đất, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn.
Năm là, người
sử dụng đất quốc phòng cần tích cực, chủ động phối hợp với chính quyền địa
phương trong việc giải quyết dứt điểm các tranh chấp, lấn chiếm, cấp chồng đất
quốc phòng do lịch sử để lại và không để phát sinh các tranh chấp mới; đồng
thời, tuyên truyền cho quần chúng nhân dân trên địa bàn về vị trí, tầm quan
trọng và các quy định của pháp luật về đất quốc phòng để từ đó nâng cao ý thức,
trách nhiệm bảo vệ đất quốc phòng cho quần chúng nhân dân.
0 Nhận xét