NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

(Chuyên đề đã được rút gọn và thông qua Tổ tư vấn pháp luật Tòa án quân sự Quân khu 2)

I. TRANH CHẤP ĐẤT QUỐC PHÒNG VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT QUỐC PHÒNG

1. Tranh chấp đất quốc phòng

1.1 Khái niệm: Là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa người sử dụng đất quốc phòng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài quân đội [1].

Người sử dụng đất quốc phòng là cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng được giao và công nhận quyền quản lý, sử dụng đất quốc phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai[2]. Cụ thể:

- Các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng đối với đất cho các đơn vị đóng quân; đất làm căn cứ quân sự; đất làm các công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và các công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; nhà công vụ của Quân đội; đất thuộc các khu vực mà Chính phủ giao nhiệm vụ riêng cho Bộ Quốc phòng quản lý, bảo vệ và sử dụng.

- Các đơn vị trực tiếp sử dụng đất đối với đất làm ga, cảng quân sự; đất làm các công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ phục vụ trực tiếp cho quốc phòng; đất làm kho tàng của Quân đội; đất làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; đất xây dựng nhà trường, bệnh viện, nhà an dưỡng của Quân đội; đất làm trại giam giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ Quốc phòng quản lý.

- Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Ban Chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Đồn biên phòng đối với đất xây dựng trụ sở[3].

Như vậy, tranh chấp đất quốc phòng xảy ra khi các cơ quan, đơn vị quân đội nêu trên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trên đất được giao quy hoạch sử dụng vào mục đích quốc phòng với các tổ chức, cá nhân khác trong và ngoài quân đội(sau đây gọi chung là bên tranh chấp).

1.2. Đặc trưng tranh chấp đất quốc phòng

Đất quốc phòng bị tranh chấp là đất nằm trong khu vực quy hoạch sử dụng vào mục đích quốc phòng nhưng chưa có nhu cầu sử dụng ngay cho mục đích quốc phòng; do người sử dụng đất không chủ động, phối hợp với chính quyền địa phương trong việc xác định mốc giới, rà soát, quản lý đất hoặc do hành vi cố ý của một số tổ chức, cá nhân trong và ngoài quân đội hoặc sự thiếu trách nhiệm của cấp có thẩm quyền trong việc cấp giấy chứng nhận đất dẫn đến có thể xảy ra một số dạng tranh chấp như sau:

- Người sử dụng đất quốc phòng cho quân nhân mượn xây nhà ở tạm trong thời gian công tác nhưng khi thôi phục vụ tại ngũ không bàn giao lại cho đơn vị quản lý, sử dụng.

- Một số tổ chức, cá nhân trong và ngoài quân đội lấn chiếm, sử dụng đất quốc phòng không đúng mục đích trong thời gian dài (xây dựng nhà ở cố định, xưởng, trồng cây lâu năm…) thậm chí có trường hợp cho thuê, mua bán đất lấn chiếm…

- Đất quốc phòng bị cấp chồng quyền sử dụng đất.

2. Thủ tục giải quyết tranh chấp đất quốc phòng

Khi giải quyết tranh chấp, lấn chiếm, cấp chồng đất quốc phòng thì cơ quan, đơn vị sử dụng đất quốc phòng (người sử dụng đất quốc phòng) tiến hành từng bước như sau:

2.1. Hòa giải tại đơn vị

Mặc dù, việc tự hòa giải giữa các bên trong tranh chấp đất quốc phòng không phải là trình tự thủ tục bắt buộc và không được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất quốc phòng của Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, việc tự hòa giải trong tranh chấp đất đai nói chung và tranh chấp đất quốc phòng nói riêng được Nhà nước khuyến khích; đồng thời, việc tự hòa giải thành giúp rút ngắn thời gian giải quyết các tranh chấp đất quốc phòng. Do đó, TAQSQK2 đề nghị người sử dụng đất quốc phòng nên có bước tự hòa giải với bên có tranh chấp. Các cơ quan, đơn vị có thể tham khảo trình tự, thủ tục như sau:

- Người sử dụng đất quốc phòng sắp xếp, tổ chức buổi hòa giải và thông báo, động viên bên tranh chấp tham gia. Trường hợp, bên tranh chấp từ chối đến tham gia buổi tự hòa giải thì người sử dụng đất quốc phòng làm thủ tục đề nghị UBND cấp xã hòa giải (như tiểu mục 2.2).

+ Địa điểm: Tại đơn vị hoặc nơi xảy ra tranh chấp hoặc nơi khác thuận tiện cho các bên tham gia.

- Thành phần: Đại diện người sử dụng đất quốc phòng (Chủ trì cuộc họp); Ban CHQS cấp huyện nơi có đất tranh chấp và bên tranh chấp.

- Nội dung phiên hòa giải:

+ Người chủ trì phiên hòa giải cần giải thích rõ các quy định của pháp luật về đất đai, đất quốc phòng và hành vi lấn chiếm, sử dụng đất quốc phòng sai mục đích là không đúng với quy định của pháp luật.

+ Trường hợp gia đình quân nhân được đơn vị hỗ trợ cho mượn đất để xây dựng nhà ở tạm trong thời gian công tác thì cần giải thích rõ cho họ về việc mượn đất này hoàn toàn khác với chế độ, chính sách phát triển nhà ở, đất ở chính sách và giải quyết chính sách nhà ở, đất ở cho quân nhân theo Thông tư 177/2011/TT-BQP ngày 19/9/2011 của Bộ Quốc phòng (cho mượn đất ở sử dụng lâu dài và chính quyền địa phương sẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình quân nhân nếu đủ điều kiện theo pháp luật đất đai đang có hiệu lực). Do đó, khi quân nhân được mượn đất không còn nhu cầu sử dụng hoặc đã nghỉ công tác theo chế độ thì phải bàn giao trả lại đất cho đơn vị để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Đồng thời, việc cho mượn đất quốc phòng để xây dựng nhà ở, trồng cây lâu năm hoặc các công trình khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép là không đúng thẩm quyền của đơn vị và quy định của pháp luật.

+ Yêu cầu bên có tranh chấp thực hiện việc di dời và trả lại mặt bằng đất cho đơn vị quản lý, sử dụng vào mục đích quốc phòng. Trường hợp cần thiết, theo điều kiện của từng đơn vị có thể hỗ trợ, giúp đỡ gia đình thực hiện việc di dời tài sản, giải phóng mặt bằng (nếu có).

+ Đối với tài sản trên đất thuộc sở hữu của bên đang sử dụng trái phép mà không thể di dời được thì đơn vị có thể thỏa thuận về giá trị tài sản trên đất; nếu đơn vị có nhu cầu thì mua lại sử dụng; không có nhu cầu thì không nhất thiết phải mua lại.

- Phiên hòa giải phải được lập biên bản và có chữ ký xác nhận của các bên tham gia.

- Trường hợp tự hòa giải thành thì người sử dụng đất quốc phòng không phải thực hiện các bước hòa giải, khởi kiện tiếp theo (kết thúc tranh chấp). Nếu tự hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất (xảy ra khi có chồng lấn đất quốc phòng) thì người sử dụng đất quốc phòng gửi văn bản đề nghị giải quyết, biên bản hòa giải và các tài liệu kèm theo (như bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 bên, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng…) đến Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất tranh chấp để trình UBND tỉnh quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo thẩm quyền[4].

2.2. Hòa giải tại UBND xã nơi có đất tranh chấp

Trường hợp không tự hòa giải được thì cơ quan, đơn vị có trách nhiệm phối hợp với Ban CHQS cấp huyện, UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp và bên tranh chấp tiến hành hòa giải[5]. Trình tự được thực hiện theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai và Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Cụ thể:

Bước 1:

Người sử dụng đất quốc phòng gửi văn bản đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND xã nơi có đất tranh chấp và các tài liệu có liên quan kèm theo (nếu có). Hình thức gửi văn bản và các tài liệu kèm theo có thể qua đường bưu điện hoặc nộp trực tiếp tại UBND xã. Đồng thời, gửi văn bản cho Ban CHQS cấp huyện nơi có đất để phối hợp giải quyết.

Bước 2. 

UBND cấp xã thực hiện các nội dung sau:

- Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất.

- Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

- Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.

- Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có đầy đủ nội dung; chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của UBND cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã theo đúng quy định pháp luật.

Bước 3:

 Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.

- Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất, người sử dụng đất (xảy ra khi có chồng lấn đất quốc phòng) thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến Sở Tài nguyên và Môi trường để trình UBND cấp tỉnh quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật[6].

- Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì UBND xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo (UBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án).

* Thời hạn giải quyết:

- Thời hạn kiểm tra hồ sơ: Trường hợp nhận hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì trong thời gian tối đa 03 ngày, UBND xã thông báo nộp bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định.

- Thời hạn giải quyết: Không quá 45 ngày; đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thì thời gian thực hiện được tăng thêm 15 ngày[7].

2.3. Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất tranh chấp

Trường hợp tranh chấp đất quốc phòng đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành thì tùy trường hợp cụ thể, đơn vị lựa chọn 1 trong 2 hình thức giải quyết là:

- Trường hợp đơn vị đã được cấp GCN quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

- Trường hợp không có GCN quyền sử dụng đất thì đơn vị lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp tỉnh nơi có đất;

+ Khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự[8];

2.3.1. Yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp tỉnh

Bước 1:

Người sử dụng đất quốc phòng gửi đề nghị giải quyết tranh chấp về UBND cấp tỉnh nơi có đất tranh chấp và cấp trên trực tiếp. Hồ sơ bao gồm các văn bản sau:

+ Văn bản đề nghị giải quyết tranh chấp;

+ Bản sao hồ sơ pháp lý và các tài liệu có liên quan chứng minh đất bị tranh chấp đã được quản lý, sử dụng vào mục đích quốc phòng qua từng thời kỳ;

+ Bản sao các văn bản: Biên bản làm việc với bên tranh chấp, các văn bản trong quá trình hòa giải; biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp, lấn chiếm, biên bản cuộc họp giữa các ban ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp hòa giải không thành và các văn bản của cơ quan và chính quyền cấp xã có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp[9].

Bước 2:

 UBND cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện các nội dung sau:

- Tổ chức thẩm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai (nếu cần thiết) và hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.

- Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành, gửi cho các bên tranh chấp, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan.

- Trường hợp các bên không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính[10].

Bước 3:

Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

* Thời hạn giải quyết:

- Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là không quá 60 ngày.

- Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là không quá 90 ngày.

- Cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai là không quá 30 ngày[11].

2.3.2. Khởi kiện tại TAND cấp huyện (theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự)

Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện

- Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

+ Đơn khởi kiện.

+ Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có).

+ Biên bản hòa giải có chứng nhận của UBND xã và có chữ ký của các bên tranh chấp.

+ Giấy tờ của người sử dụng đất quốc phòng: Giấy ủy quyền (trường hợp được ủy quyền), các giấy tờ nhân thân khác của người sử dụng đất quốc phòng có liên quan (CMQĐ…)

+ Tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất quốc phòng bị xâm phạm: Các chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, hoặc lợi ích liên quan đến quyền quản lý, sử dụng đất bị xâm phạm[12].

- Hình thức nộp đơn: Người sử dụng đất quốc phòng có thể nộp đơn cho Tòa án bằng một trong các hình thức được quy định tại Điều 191 BLTTDS như sau: Nộp đơn trực tiếp tại tòa; gửi đơn qua dịch vụ bưu chính; nộp đơn trực tuyến tại Cổng thông tin điện tử của tòa án (nếu có)

Bước 2: Thụ lý vụ án

- Trong thời hạn 08 ngày làm việc từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án sẽ ra 1 trong các quyết định:

+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ khởi kiện;

+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn và ra thông báo thụ lý vụ án gửi cho các bên.

Bước 3: Nộp tạm ứng án phí

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án nếu tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì trong thời hạn 07 ngày kể từ khi nhận được thông báo thụ lý của Tòa án thì người sử dụng đất quốc phòng phải nộp tạm ứng án phí cho Cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện để nộp vào Kho bạc Nhà nước và nộp biên lai tạm ứng án phí cho Tòa án.

Bước 4: Chuẩn bị xét xử

Giai đoạn chuẩn bị xét xử không quá 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Trong giai đoạn này Tòa án sẽ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (thời gian theo quyết định của Tòa án). Trình tự phiên họp, hòa giải tại Tòa án được thực hiện theo quy định tại Điều 208, 209, 210 BLTTDS.

- Phiên họp, hòa giải được lập biên bản theo quy định tại Điều 211 BLTTDS.

- Công nhận kết quả phiên hòa giải: Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các bên và Viện kiểm sát cùng cấp[13].

Bước 5: Xét xử vụ án

Hết thời hạn 04 tháng, nếu vụ án chưa được hòa giải thì Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Vụ án sẽ được xét xử trong thời hạn 01 tháng (nếu có lý do chính đáng có thể kéo dài 02 tháng).

Bước 6: Kháng cáo bản án sơ thẩm

Trường hợp, một hoặc hai bên không đồng ý với quyết định của Bản án sơ thẩm thì làm đơn kháng cáo đến TAND cấp cao có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án (trường hợp vắng mặt tại phiên tòa có lý do chính đáng). Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án và buộc các bên phải chấp hành. Trường hợp, không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành án.

Bước 7: Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án

Trường hợp có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm quy định tại Điều 326, Điều 352 BLTTDS thì một trong hai bên kiến nghị hoặc thông báo để người có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

II. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TRANH CHẤP ĐẤT QUỐC PHÒNG TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU

Qua thực tiễn tham mưu, tư vấn cho Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Quân khu, cơ quan, đơn vị trong việc giải quyết một số vụ việc liên quan đến đất quốc phòng. Tòa án quân sự Quân khu 2 đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế xảy ra tranh chấp đất quốc phòng như sau:

Một là, đối với diện tích đất đã được Chính phủ phê duyệt sử dụng vào mục đích quốc phòng, thì đơn vị được giao sử dụng đất cần thường xuyên rà soát, xây dựng ranh giới, mốc giới đất, thường xuyên kiểm tra và có biện pháp phòng ngừa để tránh xảy ra tình trạng lấn chiếm, sử dụng đất quốc phòng không đúng mục đích của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài quân đội. Đồng thời, đề nghị cấp có thẩm quyền sớm cấp GCN quyền sử dụng đất quốc phòng cho người sử dụng đất theo quy định để hoàn thiện về mặt pháp lý và thuận tiện cho việc giải quyết tranh chấp đất quốc phòng (nếu có).

Hai là, cấp ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên tuyên truyền cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị các quy định của pháp luật hiện hành về đất đai, đất quốc phòng và chính sách về nhà ở cho quân nhân.

Ba là, thường xuyên quan tâm, chú trọng giải quyết tốt chế độ chính sách, nhà ở trong quân đội theo đúng quy định pháp luật, không để tình trạng quân nhân đủ điều kiện nhưng không được hưởng nhà ở chính sách.

Bốn là, người sử dụng đất quốc phòng không được cho mượn, thuê đất quốc phòng sử dụng vào mục đích làm nhà ở, tăng gia, chăn nuôi, trồng cây lâu năm hoặc xây dựng các công trình khác trên đất quốc phòng không đúng thẩm quyền dẫn đến việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn.

Năm là, người sử dụng đất quốc phòng cần tích cực, chủ động phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giải quyết dứt điểm các tranh chấp, lấn chiếm, cấp chồng đất quốc phòng do lịch sử để lại và không để phát sinh các tranh chấp mới; đồng thời, tuyên truyền cho quần chúng nhân dân trên địa bàn về vị trí, tầm quan trọng và các quy định của pháp luật về đất quốc phòng để từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ đất quốc phòng cho quần chúng nhân dân.

 



                [1] Khoản 10 Điều 3 Thông tư 157/2017/TT-BQP.

                [2] Khoản 2 Điều 3 Thông tư 157/2017/TT-BQP.

                [3] Khoản 1 Điều 50 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

                [4] Khoản 3 Điều 106 Luật Đất đai.

                [5] Khoản 1 Điều 27 Thông tư 157/2017/TT-BQP

                [6]Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

                [7] Khoản 3, 4 Điều 61 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

                [8] Khoản 1, 2 Điều 203 Luật Đất đai.

                [9] Khoản 2 Điều 27 Thông tư 157/2017/TT-BQP.

                [10] Điểm b khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai.

                [11] Khoản 3 Điều 61 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

                [12] Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự.

                [13] Điều 212 BLTTDS.