Hiện nay, xu hướng sử dụng rượu, bia trong sinh hoạt hàng ngày, trong những dịp lễ, hội, trong quan hệ công việc… đang ngày càng gia tăng. Tình trạng này đã và đang trở thành vấn đề đáng báo động. Việc sử dụng rượu, bia “tràn lan” không chỉ ảnh hưởng sức khỏe người uống mà còn tác động đến trật tự an toàn xã hội và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra tai nạn giao thông.

Cũng từ vấn đề này, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã nhấn mạnh“Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm tiêu thụ rượu, bia, thuốc lá”, “Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các hàng hoá có hại cho sức khoẻ như đồ uống có cồn, có ga, thuốc lá để hạn chế tiêu dùng”, “Phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về sức khoẻ; hoàn thành trước thời hạn một số mục tiêu.”

Do vậy, ngày 14/6/2019, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia (Luật số 44/2019/QH14), Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 28/6/2019 (Lệnh số 06/2019/L-CTN). Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020.



I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU, BIA NĂM 2019

Sử dụng rượu, bia không hợp lý dẫn đến những hậu quả trực tiếp đối với sức khỏe của người sử dụng, làm giảm năng suất lao động, đồng thời gây ra các hậu quả kinh tế và xã hội khác đối với gia đình và cộng đồng. Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tiễn và các quy định pháp luật có liên quan, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia. Luật ra đời trên cơ sở những tác nhân cụ thể như sau:

Thứ nhất, Việc ban hành Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia là bước thể chế hóa quan điểm, chính sách của Đảng về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Căn cứ vào tình hình thực tiễn về mức tiêu thụ và ảnh hưởng của việc sử dụng rượu, bia đến trật tự, an toàn xã hội, Luật phòng, chống tác hại của rượu bia đã ra đời nhằm quản lý và hạn chế tối đa việc sử dụng và những ảnh hưởng xấu do việc sử dụng rượu bia gây ra. Minh chứng cho dấu hiệu đáng báo động về tình trạng sử dụng rượu, bia như sau:

Theo báo cáo của Bộ Công thương năm 2017, Việt Nam sản xuất hơn 04 tỷ lít bia, hơn 70 triệu lít rượu công nghiệp và khoảng 230-280 triệu lít rượu thủ công. Rượu, bia là 02 sản phẩm đồ uống có chứa cồn phổ biến, chiếm 99,8% thị phần tại Việt Nam.

Theo số liệu ước tính năm 2016 của Tổ chức Y tế thế giới, nếu quy đổi rượu, bia ra lít cồn nguyên chất thì mức tiêu thụ bình quân đầu người Việt Nam (trên 15 tuổi)  là 8,3 lít, lên vị trí 64/194 nước. Nếu tính riêng nam giới trên 15 tuổi có sử dụng rượu, bia, thì trung bình một nam giới Việt Nam tiêu thụ 27,4 lít cồn nguyên chất/năm vào năm 2010, xếp thứ hai trong các nước Đông Nam Á và thứ 29 trên thế giới. Việt Nam là nước tiêu thụ bia cao nhất Đông Nam Á và thứ 3 Châu Á sau Nhật Bản, Trung Quốc.

Theo số liệu thông kê, trung bình mỗi năm Việt Nam có 15.000 người chết vì tai nạn giao thông, trong đó khoảng 4.800 trường hợp có liên quan đến rượu, bia. Thông tin từ Khoa cấp cứu bệnh viện Việt Đức, chỉ có 04 ngày tết Mậu Tuất 2018 có gần 500 ca tai nạn giao thông nhập viện trong đó 60% là có liên quan đến sử dụng rượu, bia.

Ngoài ra, việc sử dụng rượu, bia còn là nguy cơ của nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe, trật tự an toàn xã hội. Cụ thể, thống kê hằng năm có khoảng 800 ca tử vong do bạo lực có liên quan đến sử dụng rượu, bia; Khoảng gần 30% số vụ gây rối trật tự xã hội có liên quan đến sử dụng rượu, bia; Phạm pháp hình sự liên quan đến rượu, bia trong độ tuổi trước 30 chiếm tới 70%.

Rượu, bia xếp thứ 05 trong 15 yếu tố nguy cơ sức khỏe hàng đầu. Số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy năm 2012 có 8,3% số trường hợp tử vong liên quan đến sử dụng rượu, bia, 71,7% trường hợp tử vong do xơ gan ở nam và 36,2% trường hợp tử vong do tai nạn giao thông ở nam là do sử dụng rượu, bia. 15% số giường bệnh tại các bệnh viện tâm thần là dành cho điều trị người bệnh loạn thần do rượu, bia.

Thứ hai, thực trạng sản xuất, kinh doanh và quản lý sản xuất, kinh doanh rượu, bia cần được điều chỉnh để phù hợp. Ngoài sản xuất rượu bia công nghiệp, người dân còn tiến hành sản xuất rượu thủ công vì vậy việc kiểm soát hàm lượng methanol, aldehyt còn khó khăn. Ngoài ra, tình hình rượu giả, rượu nhập lậu có giảm nhưng vẫn còn tồn tại, khó kiểm soát. Vì vậy, yêu cầu có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất và lưu thông rượu, bia đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

Thứ ba, Pháp luật hiện hành chủ yếu quy định về quản lý sản xuất, kinh doanh rượu, bia, chưa điều chỉnh đầy đủ đối với phòng, chống tác hại rượu, bia nên cần phải được điều chỉnh kịp thời. Hiện nay, pháp luật về kinh doanh rượu, bia thực hiện theo 2 văn bản là Nghị định số 105/2017/NĐ-CP về kinh doanh rượu (Nghị định số 105/2017/NĐ-CP) và Nghị định số 77/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, phân bón, kinh doanh khí, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương (Nghị định số 77/2016/NĐ-CP) đối với bia và một số điều khoản trong các luật thương mại, đầu tư, quảng cáo.

Do đó, việc phòng chống tác hại rượu bia đang và đã vấn đề cần quan tâm, quản lý và kiểm soát chặt chẽ hiện nay. Việc ban hành Luật Phòng chống tác hại rượu bia để góp phần hạn chế gánh nặng do tác hại của rượu, bia gây ra đối với cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

II. MỤC ĐÍCH LUẬT PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI RƯỢU BIA

Thể chế các chính sách nhằm giảm tác hại của việc sử dụng rượu, bia đối với sức khỏe, xã hội, kinh tế (đặc biệt là tai nạn giao thông, gây rối trật tự công cộng, bạo lực gia đình...) thông qua các biện pháp về giảm mức tiêu thụ rượu, bia; quản lý việc cung cấp, hạn chế tính sẵn có của rượu, bia; giảm tác hại, bảo đảm nguồn lực để PCTHRB, góp phần bảo vệ, nâng cao sức khỏe người dân, phòng, chống tai nạn giao thông và các tác động đến kinh tế, xã hội.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CÚA LUẬT PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI RƯỢU BIA

Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 gồm 07 chương, 36 điều; cụ thể như sau:

Chương I. Quy định chung, gồm 05 điều (từ Điều 1 đến Điều 5), quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; chính sách của Nhà nước trong phòng, chống tác hại của rượu, bia; quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong phòng, chống tác hại của rượu, bia và các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia.

Chương II. Biện pháp giảm mức tiêu thụ rượu, bia, gồm 09 điều (Điều 6 đến Điều 14) quy định về mục đích, yêu cầu trong thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia; nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia; hình thức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia; trách nhiệm trong thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia; địa điểm không uống rượu, bia; quản lý việc khuyến mại rượu, bia có độ cồn dưới 15 độ; quản lý việc quảng cáo rượu, bia có độ cồn dưới 5,5 độ; quản lý việc quảng cáo rượu có nồng độ cồn từ 5,5 độ đến dưới 15 độ và bia có độ cồn từ 5,5 độ trở lên; quản lý việc tài trợ của tổ chức, cá nhân kinh doanh rượu, bia.

Chương III. Biện pháp quản lý việc cung cấp rượu, bia, gồm 06 điều (từ Điều 15 đến Điều 20) quy định về quản lý kinh doanh rượu; điều kiện bán rượu, bia theo hình thức thương mại điện tử; biện pháp quản lý đối với sản xuất rượu thủ công không nhằm mục đích kinh doanh; bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm đối với rượu, bia; địa điểm không bán rượu, bia; phòng ngừa và xử lý rượu, bia giả, không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; rượu, bia nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

Chương IV. Biện pháp giảm tác hại của rượu, bia, gồm 05 điều (từ Điều 21 đến Điều 25) quy định về phòng ngừa tại nạn giao thông liên quan đến sử dụng rượu, bia; phòng ngừa, can thiệp và giảm tác hại của việc uống rượu, bia đối với sức khỏe; tư vấn về phòng, chống tác hại của rượu, bia; biện pháp phòng ngừa tác hại của rượu, bia tại cộng đồng; chăm sóc, hỗ trợ, bảo vệ trẻ em, phụ nữ và các đối tượng yếu thế khác để phòng ngừa, giảm tác hại của rượu, bia;

Chương V. Điều kiện bảo đảm cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia, gồm 03 điều (từ Điều 26 đến Điều 28) quy định về kinh phí cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm công tác phòng, chống tác hại của rượu, bia; xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia.

Chương VI. Quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tác hại của rượu, bia gồm 06 điều (Điều 29 và Điều 34) quy định về nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia; trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội; trách nhiệm của cơ sở kinh doanh rượu, bia; trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong phòng, chống tác hại của rượu, bia; trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống tác hại của rượu, bia.

Chương VII. Điều khoản thi hành gồm 02 điều (Điều 35 Điều 36) quy định về sửa đổi, bổ sung quy định của một số luật khác và hiệu lực thi hành.

IV. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU, BIA NĂM 2019




Luật phòng, chống tác hại của rượu bia quy định các biện pháp giảm mức tiêu thụ rượu, bia; biện pháp quản lý việc cung cấp rượu, bia; biện pháp giảm tác hại của rượu, bia; điều kiện bảo đảm cho hoạt đông phòng, chống tác hại của rượu, bia; quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tác hại của rượu, bia. Điển hình, một số nội dung cần lưu ý của Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia như sau:

1. Các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia

 Điều 5 Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia quy định các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó nổi bật việc cấm lái xe khi vừa uống rượu, bia đã chính thức được Luật hóa. Theo đó, Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về nồng độ cồn. Chẳng hạn: Phạt cao nhất đối với người điều khiển xe ô tô là từ 30-40 triệu đồng, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 22-24 tháng trong trường hợp điều khiển xe ô tô có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililit máu hoặc vượt quá 0,4 miigam/1 lít khí thở.

Bên cạnh đó, Luật cũng nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau: Xúi giục, kích động, lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu, bia; Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, người làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân, học sinh, sinh viên uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập; Quảng cáo rượu có độ cồn từ 15 độ trở lên; Cung cấp thông tin không chính xác, sai sự thật về ảnh hưởng của rượu, bia đối với sức khỏe; Khuyến mại trong hoạt động kinh doanh rượu, bia có độ cồn từ 15 độ trở lên; sử dụng rượu, bia có độ cồn từ 15 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức; Sử dụng nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến không được phép dùng trong thực phẩm; nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm không bảo đảm chất lượng và không rõ nguồn gốc, xuất xứ để sản xuất, pha chế rượu, bia; Kinh doanh rượu không có giấy phép hoặc không đăng ký; bán rượu, bia bằng máy bán hàng tự động; Kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển rượu, bia giả, nhập lậu, không bảo đảm chất lượng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, nhập lậu rượu, bia.

Đối với người dưới 18 tuổi, Luật quy định cấm người chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia. Đồng thời, các cơ sở bán rượu, bia phải dán thông báo không bán rượu, bia cho người dưới 18 tuổi (Khoản 5, Điều 32 Luật phòng, chống tác hại rượu bia). Kết hợp với đó, nghiêm cấm việc bán, cung cấp, khuyến mại rượu, bia cho người chưa đủ 18 tuổi; Sử dụng lao động là người chưa đủ 18 tuổi trực tiếp tham gia vào việc sản xuất, mua bán rượu, bia. Vì vậy, tại các cơ sở kinh doanh buôn bán rượu, bia cần yêu cầu xuất trình giấy tờ chứng minh độ tuổi để kiểm tra trước khi bán hoặc từ chối bán với những khách hàng không đủ điều kiện.

2. Những địa điểm không uống rượu, bia và không bán rượu, bia.

Để ngăn chặn cũng như có biện pháp quản lý, xử lý pháp luật đã quy định về địa điểm không uống rượu, bia và quy định về địa điểm không bán rượu, bia. Điều 10 và Điều 19 Luật phòng, chống tác hại rượu, bia quy định những địa điểm không được phép uống rượu, bia và không bán, rượu bia như sau: Cơ sở y tế; Cơ sở giáo dục trong thời gian giảng dạy, học tập, làm việc; Cơ sở, khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành cho người chưa đủ 18 tuổi; Cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ phạm nhân và cơ sở giam giữ khác; Cơ sở bảo trợ xã hội; Nơi làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian làm việc, trừ địa điểm được phép kinh doanh rượu, bia.

Đối với địa điểm không được uống rượu, bia Điều 10 Luật Phòng chống tác hại rượu, bia đã bổ sung “Các địa điểm công cộng theo quy định của Chính phủ”. Trừ các địa điểm được phép kinh doanh rượu, bia.

Ngoài ra, Nghị định 24/2020/NĐ-CP còn bổ sung thêm những địa điểm công cộng không được uống rượu, bia, gồm có:1. Công viên, trừ trường hợp nhà hàng trong phạm vi khuôn viên của công viên đã được cấp phép kinh doanh rượu, bia trước ngày Nghị định này có hiệu lực; 2. Nhà chờ xe buýt.; 3. Rạp chiếu phim, nhà hát, cơ sở văn hóa, thể thao trong thời gian tổ chức các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và công năng sử dụng chính của các địa điểm này, trừ trường hợp tổ chức các lễ hội ẩm thực, văn hóa có sử dụng rượu, bia.

3. Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia

Luật phòng, chống tác hại của rượu bia không quy định trực tiếp về xử lý các hành vi vi phạm mà tùy theo tính chất, mức độ vi phạm tổ chức, cá nhân có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.Cụ thể, Điều 28 Luật Phòng, chống tác hại rượu, bia quy định như sau:

“1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan, người có thẩm quyền được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện, xử lý kịp thời hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia.

3. Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong phòng, chống tác hại của rượu, bia.”

4. Trách nhiệm của cơ sở kinh doanh rượu, bia

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn về quản lý, kiểm soát việc mua bán, sử dụng các loại rượu lưu thông trên thị trường, đảm bảo an toàn cho người sử dụng Điều 32  Luật Phòng, chống tác hại rượu, bia quy định như sau: “1. Tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh rượu, bia; về quảng cáo, khuyến mại, tài trợ, an toàn thực phẩm, chất lượng, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, ghi nhãn hàng hóa đối với rượu, bia. Thông tin về sản phẩm rượu, bia phải bảo đảm chính xác, khoa học.

2. Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về hoạt động kinh doanh của cơ sở theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

3. Không sử dụng lao động là người chưa đủ 18 tuổi trực tiếp tham gia vào việc kinh doanh, quảng cáo rượu, bia.

4. Thu hồi và xử lý rượu, bia không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm do cơ sở mình sản xuất, mua bán theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm.

5. Cơ sở bán rượu, bia phải niêm yết thông báo không bán rượu, bia cho người chưa đủ 18 tuổi. Trường hợp nghi ngờ về độ tuổi của người mua rượu, bia thì người bán có quyền yêu cầu người mua xuất trình giấy tờ chứng minh.

6. Cơ sở bán rượu, bia tiêu dùng tại chỗ nhắc nhở và có hình thức thông tin phù hợp đối với khách hàng về việc không điều khiển phương tiện giao thông, hỗ trợ khách hàng thuê, sử dụng phương tiện giao thông công cộng sau khi uống rượu, bia.

7. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực, không được mở mới điểm bán rượu, bia để tiêu dùng tại chỗ trong bán kính 100 m tính từ khuôn viên của cơ sở y tế, nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông.

Như vậy, thông qua quy định không chỉ quản lý và kiểm soát việc sử dụng, lưu thông rượu bia trên thị trường mà còn đặt trách nhiệm đối với các chủ cơ sở sản xuất kinh doanh cần tuân thủ nghiêm các quy định, góp phần giảm thiểu tác hại của rượu, bia và đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm."