(Chuyên đề đã được thông qua Tổ tư vấn pháp luật Tòa án quân sự Quân khu 2)
Phần thứ nhất
Nội dung, chính sách và một số quy định mới của luật
I. Thực trạng môi trường và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay
1. Môi trường nước
ta đang diễn biến ngày càng phức tạp ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống; nhiều
quy định về BVMT còn bất cập, chồng chéo
- Quá trình phát triển kinh tế - xã hội đã
tạo áp lực lớn lên môi trường dẫn đến chất lượng môi trường của nhiều khu vực
vượt ngưỡng cho phép, không còn khả năng tiếp nhận chất thải; ô nhiễm môi trường
gia tăng.
-
Ô nhiễm nước mặt tại các lưu vực sông Nhuệ - Đáy, sông Bắc Hưng Hải, sông Cầu,
sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Sài Gòn - Đồng Nai… đoạn chảy qua các đô thị, khu
dân cư vẫn diễn ra bức xúc. Nước thải đô thị phát sinh ngày càng lớn[1] hầu hết chưa qua
xử lý, xả ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước mặt trong các đô thị, khu dân
cư; hạ tầng thu gom, xử lý chưa đáp ứng yêu cầu[2]. Nhiều nguồn nước
đã hết khả năng tiếp nhận chất thải trong khi vẫn phải đang tiếp nhận một lượng
lớn nước thải. Nhiều dòng sông không còn khả năng tự làm sạch và bị biến thành
nơi dẫn, tiêu thoát, chứa nước thải.
-
Chất lượng không khí ở các đô thị, khu vực đông dân cư ngày càng trở nên nghiêm
trọng; đặc biệt, chỉ số chất lượng không khí có thời điểm vượt ngưỡng an toàn,
nguy hại tới sức khỏe người dân (như bụi mịn PM2.5, SO2, CO…), ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống, gây tâm lý bất an, lo lắng trong nhân dân. Chất thải rắn
cũng đang là vấn đề nóng cần được giải quyết với hàng chục triệu tấn rác thải
sinh hoạt[3], chất thải rắn
công nghiệp, hàng trăm nghìn tấn chất thải nguy hại, rác thải nhựa phát sinh
hàng năm. Trong khi đó, hầu hết chất thải rắn chưa được phân loại tại nguồn,
năng lực thu gom còn hạn chế, phần lớn được xử lý theo hình thức chôn lấp, nhiều
bãi chôn lấp không hợp vệ sinh gây phát tán mùi ra các khu dân cư, gây bức xúc
trong nhân dân. Ô nhiễm đất do dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật; thoái hóa đất
do xói mòn rửa trôi tại vùng đồi núi; hiện tượng mặn hóa, xâm nhập mặn tại các
khu vực cửa sông; ô nhiễm môi trường nước xuyên biên giới vẫn tiếp tục diễn ra
và có xu hướng gia tăng so với những năm trước.
-
Số lượng động vật, thực vật hoang dã trong thiên nhiên bị đe dọa đã gia tăng
đáng kể[4]. Diện tích các hệ
sinh thái tự nhiên bị thu hẹp, xuống cấp về chất lượng, đặc biệt là các hệ sinh
thái đất ngập nước, núi đá vôi, bãi bồi cửa sông ven biển... làm mất nguồn cung
cấp nước ngầm, nơi sinh sản, phát triển, cư trú của các loài sinh vật. Số loài
và số cá thể các loài hoang dã giảm mạnh, nhiều loài bị săn bắt, khai thác,
buôn bán trái phép nên nguy cơ bị tuyệt chủng cao; vẫn còn nguy cơ từ sinh vật
ngoại lai xâm hại và rủi ro từ sinh vật biến đổi gen. Một số sự cố ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng[5] và rất nghiêm trọng
xảy ra trên diện rộng[6] đã ảnh hưởng rất
lớn đến môi trường, sức khỏe của người dân. Có nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan, nhưng quan trọng và chủ yếu là một số công cụ quản lý môi trường chưa
phát huy được hiệu lực, hiệu quả; các cách tiếp cận và công cụ quản lý mới chưa
được thể chế hóa kịp thời trong công tác BVMT, phù hợp với xu thế chung của thế
giới.
- Một số vấn đề mới phát sinh về BVMT chưa
có hành lang pháp lý để điều chỉnh: Thực tế trong thời gian qua cho thấy phát
sinh nhiều sự cố ô nhiễm, suy thoái môi trường lớn, diễn ra trên diện rộng,
bùng phát các điểm nóng về môi trường do xả thải nhưng chưa có cơ sở pháp lý về
cơ chế, tiêu chí sàng lọc, phân loại, phân luồng các dự án đầu tư theo mức độ rủi
ro về môi trường; cơ chế kiểm soát đặc thù đối với các đối tượng có nguy cơ cao
gây ô nhiễm, sự cố môi trường.
- Các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT
ngày càng tinh vi, phức tạp, trong khi mức xử phạt và thời hiệu xử phạt chưa đủ
sức răn đe, hạn chế về thẩm quyền nên kết quả thanh tra, kiểm tra và xử lý vi
phạm pháp luật về BVMT còn nhiều hạn chế.
2. Hội nhập quốc tế
và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang và sẽ tác động mọi mặt đến đời sống
kinh tế - xã hội, tạo ra xu thế mới trong quản lý môi trường và phát triển bền
vững, trong đó việc xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh đang trở thành
xu thế chủ đạo
- Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ tư và sự
hội
nhập quốc tế của nước ta, nguy cơ ô nhiễm xuyên biên giới, ô nhiễm theo dòng chảy
công nghệ lạc hậu, chất thải vào Việt Nam ngày càng lớn, trong khi đó chúng ta đang
thiếu các công cụ hữu hiệu để phòng ngừa, ngăn chặn từ xa.
- Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy,
các công cụ quản lý môi trường là giải pháp quan trọng để giải quyết các thách
thức này, đồng thời tận dụng được các cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư góp phần thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch từ mô hình kinh tế
tuyến tính phát thải lớn sang các mô hình kinh tế ít phát thải các-bon, kinh tế
xanh, kinh tế tuần hoàn[7]
trong bối cảnh gia tăng nhanh dân số, sức ép của tăng
trưởng, nhu cầu tiêu thụ các loại nhiên liệu và năng lượng làm gia tăng khai
thác tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu [8].
Điều này càng có ý nghĩa với Việt Nam khi chúng ta đã có một thời gian dài phát
triển chủ yếu dựa vào khai thác các nguồn tài nguyên, thâm dụng vào vốn tự
nhiên sẵn có và đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng về cạn kiệt tài
nguyên[9],
ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.
Nhận thức được vị trí vai trò quan trọng của
môi trường với sự phát triển kinh tế xã hội cũng như chất lượng cuộc sống của
nhân dân, ngay từ năm 1993, Quốc hội đã ban hành luật Luật bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên do sự biến đổi nhanh chóng của quá trình phát triển kinh tế xã hội;
luật Bảo vệ môi trường lần lượt được Quốc hội xây dựng mới lại vào các năm
2005, 2014 và 2020.
II. Nội dung, chính sách, quy định mới và những sửa đổi bổ
sung của Luật
1. Bố cục của Luật: Luật gồm
16 chương, 171 điều được Quốc hội khóa XIV kỳ họp thứ 10 thông
qua ngày 17/11/2020 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2022. Trong đó:
- Luật đã xác định mục tiêu xuyên suốt là bảo vệ các thành phần môi trường,
bảo vệ sức khỏe người dân, coi đây là nội dung trọng tâm, quyết định cho các
chính sách BVMT khác. Đồng thời, quy định đồng bộ các công cụ quản lý môi trường
theo từng giai đoạn của dự án từ khâu xem xét chủ trương đầu tư, thẩm định dự
án, thực hiện dự án cho đến khi dự án đi vào vận hành chính thức và kết thúc dự
án.
- Luật đã quy định khung chính sách hướng đến việc hình
thành đạo luật về BVMT có tính tổng thể, toàn diện và hài hòa với hệ thống pháp
luật về kinh tế - xã hội; cải cách mạnh mẽ, cắt giảm trên 40% thủ tục hành
chính, giảm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính từ 20-85 ngày, góp phần
giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.
2. Các
hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động bảo vệ môi trường (14)
- Vận chuyển, chôn, lấp, đổ, thải, đốt chất thải rắn, chất thải nguy hại
không đúng quy trình kỹ thuật, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Xả nước thải, xả khí thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường
ra môi trường.
- Phát tán,
thải ra môi trường chất độc hại, vi rút độc hại có khả năng lây nhiễm cho con
người, động vật, vi sinh vật chưa được kiểm định, xác súc vật chết do dịch bệnh
và tác nhân độc hại khác đối với sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên.
-
Gây tiếng ồn, độ rung vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ
thuật môi trường; xả thải khói, bụi, khí có mùi độc hại vào không khí.
-
Thực hiện dự án đầu tư hoặc xả thải khi chưa đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
-
Nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh chất thải từ nước
ngoài dưới mọi hình thức.
-
Nhập khẩu trái phép phương tiện, máy móc, thiết bị đã qua
sử dụng để phá dỡ, tái chế.
-
Không thực hiện công trình, biện pháp, hoạt động phòng ngừa,
ứng phó, khắc phục sự cố môi trường theo quy định của pháp luật.
- Che giấu, hành vi gây ô nhiễm môi trường, cản trở, làm sai lệch, thông tin,
gian dối trong hoạt động bảo vệ môi trường dẫn đến hậu quả xấu đối với môi trường.
- Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho sức khỏe con người, sinh vật
và tự nhiên; sản xuất, sử dụng nguyên, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt
mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
- Sản xuất, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất và tiêu thụ chất làm suy giảm tầng
ô-dôn theo quy định của điều ước quốc tế về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn mà
Việt Nam là thành viên.
-
Phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên.
- Phá hoại, xâm chiếm công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo
vệ môi trường.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định của pháp luật về bảo vệ
môi trường.
3. Một số nội dung
chính sách, quy định mới của luật
3.1.
Lần đầu tiên, cộng đồng dân cư được quy định là một chủ thể trong công tác
BVMT; tăng cường công khai thông tin, tham vấn, phát huy vai trò giám sát, phản
biện, đồng thời được bảo đảm quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư khi tham gia
các hoạt động BVMT
- Xuất phát từ vai
trò quan trọng của cộng đồng dân cư trong công tác BVMT nhất là việc thu thập,
cung cấp thông tin, tham gia đánh giá kết quả BVMT của doanh nghiệp cũng như thực
hiện một trong những mục tiêu xuyên suốt của Luật là bảo vệ sức khỏe người dân,
đảm bảo người dân được sống trong môi trường trong lành. Luật BVMT năm 2020 đã
bổ sung “cộng đồng dân cư” vào phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của luật.
Theo đó, luật quy định thiết lập hệ thống trực tuyến tiếp nhận, xử lý, trả lời
phản ánh, kiến nghị, tham vấn của tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư về BVMT
(có thể tham gia giám sát hoạt động BVMT thông qua công nghệ thông tin, tương
tác các ứng dụng thông minh trên điện thoại di động).
- Luật quy định
nguyên tắc hoạt động BVMT phải được công khai, minh bạch; quy định rõ trách nhiệm
công khai thông tin liên quan đến chất lượng môi trường không khí, môi trường đất,
chất thải nguy hại, kết quả quan trắc chất thải; trong đó Nhà nước khuyến
khích tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp, cung cấp thông tin về môi trường. Quy
định trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và của chủ dự án, cơ sở
sản xuất, kinh doanh, cụm công nghiệp trong việc cung cấp, công khai thông tin
về môi trường.
- Quy định việc công
khai danh sách hội
đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Việc công bố, công
khai quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo ĐTM của cơ quan thẩm định,
công khai báo cáo ĐTM sau khi được phê duyệt kết quả thẩm định của
chủ dự án, nội dung báo cáo đề xuất cấp Giấy phép môi trường, trừ thông tin
liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật của
doanh nghiệp theo quy định của pháp luật để lấy ý kiến của
các bên liên quan cũng đã được quy định cụ thể trong Luật.
Hình thức công
khai được thực hiện thông qua cổng thông tin của cơ quan, tổ chức, trên các
phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức khác, bảo đảm thuận tiện cho
những đối tượng có liên quan tiếp nhận thông tin.
- Quy định trách nhiệm của chủ dự án trong việc tham vấn cộng
đồng dân cư, được quy định ngay từ khi lập báo cáo ĐTM; theo đó quy định rõ trách
nhiệm thực hiện tham vấn, đối tượng tham vấn, nội dung tham vấn chủ yếu, hình
thức tham vấn trong quá trình thực hiện ĐTM; kết quả tham vấn cộng đồng dân cư, cơ quan, tổ chức liên quan là thông tin
quan trọng để chủ dự án nghiên cứu đưa ra giải pháp giảm thiểu tác động của dự
án đối với môi trường và hoàn thiện báo cáo ĐTM của dự án.
3.2. Thay đổi phương thức quản lý môi
trường đối với dự án đầu tư theo các tiêu chí môi trường; kiểm soát chặt chẽ dự án có nguy
cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao, thực hiện hậu kiểm đối với các dự án
có công nghệ tiên tiến và thân thiện môi trường; cắt giảm thủ tục hành chính
- Thay đổi mạnh mẽ trong tư duy quản lý môi trường thông qua thể chế hóa chính sách phát triển dựa trên quy luật tự
nhiên, không hy sinh môi trường để đổi lấy tăng trưởng kinh tế. BVMT không chỉ
là phòng ngừa, kiểm soát, xử lý chất thải; các hoạt động sản xuất, phát triển
phải hài hòa với tự nhiên, khuyến khích bảo vệ và phát triển tự nhiên. Luật
cũng đặt ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường bảo đảm người dân Việt Nam được
hưởng chất lượng môi trường ngang bằng với các nước trên thế giới và hài hòa với
quy định của quốc tế để góp phần thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về
BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Tiếp cận phương pháp quản lý môi trường xuyên suốt, khoa học
đối với dự án đầu tư dựa trên các tiêu chí môi trường; sàng lọc, không khuyến khích các dự án không tuân theo quy luật tự nhiên, chiếm dụng lớn
diện tích rừng, đất lúa, tác động đến các di sản thiên nhiên, khu bảo tồn. Theo đó, dự án đầu tư được
phân thành 04 nhóm: Có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao, có nguy cơ, ít có nguy cơ
hoặc không có nguy cơ tác động xấu đến môi trường:
+ Quy định chỉ đối tượng có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao
(Nhóm I) mới phải đánh giá sơ bộ tác động môi trường. Quy định này nhằm khắc phục
các hạn chế, bất cập: Giảm thủ tục hành chính cho nhiều nhà đầu tư, theo đó các dự án không thuộc Nhóm
I sẽ không phải đánh giá sơ bộ tác động môi trường nhằm tiết kiệm được thời
gian và chi phí.
+ Áp dụng đầy đủ các công cụ môi trường để quản lý, sàng lọc dự án đầu tư
có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao (đánh giá sơ bộ tác động môi
trường, cấp Giấy
phép MT nếu phát sinh chất thải). Đối với các dự án áp dụng công nghệ tiên tiến và thân thiện môi trường được
cấp Giấy
phép MT ngay từ giai đoạn nghiên cứu khả thi và tổ chức hậu kiểm
(thông qua thanh tra, kiểm tra) khi dự án đi vào hoạt động chỉ phải đăng ký môi
trường (không phải là thủ tục hành chính, được thực hiện bằng hình thức trực
tuyến, đơn giản) tại UBND cấp xã. Bên cạnh đó, Luật cũng cải cách mạnh mẽ TTHC
thông qua việc tích hợp toàn bộ các giấy phép, giấy xác nhận về môi trường vào
chung 01 Giấy
phép MT và bãi bỏ các giấy phép có liên quan.
+ Quy định các đối tượng xả nước thải, bụi, khí thải lớn ra môi trường phải
quan trắc định kỳ. Đối tượng, thông số, tần suất quan trắc cụ thể sẽ do Chính
phủ quy định để phù hợp với điều kiện phát
triển khoa học, công nghệ và yêu cầu BVMT trong từng thời kỳ.
3.3. Định chế
nội dung sức khỏe môi trường; bổ sung nhiều giải pháp bảo vệ các thành phần môi
trường, đặc biệt là môi trường không khí, môi trường nước
- Luật
quy định thông qua việc bảo vệ các thành phần môi trường, qua đó bảo
vệ sức khỏe người dân, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong
lành.
Quy định rõ trách nhiệm của Bộ Y tế, các bộ, cơ quan ngang
bộ, UBND cấp tỉnh trong theo dõi, kiểm soát, phòng ngừa các chất ô nhiễm ảnh hưởng
đến sức khỏe con người cũng như đánh giá mối quan hệ giữa sức khỏe môi trường với
sức khỏe con người, đặc biệt là mối quan hệ giữa ô nhiễm môi trường với các loại
bệnh dịch mới.
- Luật cũng quy định việc lập và thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước
mặt, môi trường không khí nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ các thành phần môi trường;
quy định về tiêu chí và phân
loại khu vực ô nhiễm môi trường đất, xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất.
Quy định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh
trong việc xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng
môi trường không khí; đánh giá, theo dõi chất lượng, công khai thông tin; cảnh báo cho cộng
đồng và triển khai các biện pháp xử lý trong trường hợp chất lượng môi trường
không khí bị ô nhiễm; thực hiện biện pháp khẩn cấp chất lượng môi trường không
khí bị ô nhiễm nghiêm trọng.
3.4. Thúc đẩy phân loại rác thải tại nguồn; định
hướng cách thức quản lý, ứng xử với chất thải, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần
hoàn ở Việt Nam
- Hiện nay
do rác thải chưa được phân loại từ đầu nên tỷ lệ chôn lấp rác thải ở Việt Nam còn cao, để khắc phục tình trạng này, luật quy định
việc thu phí rác thải dựa trên khối lượng hoặc thể tích thay cho việc tính bình
quân theo hộ gia đình hoặc đầu người như hiện nay. Cơ chế thu phí này sẽ góp phần
thúc đẩy người dân phân loại, giảm thiểu rác thải phát sinh tại nguồn do nếu
không thực hiện việc này thì chi phí xử lý rác thải phải nộp sẽ cao. Do đó, rác thải sinh hoạt phải được phân làm 03 loại: (1) Chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế; (2) chất thải thực phẩm; (3) Chất thải rắn sinh
hoạt khác.
Để bảo đảm
tính khả thi của cơ chế này, Luật đã đưa ra một số quy định như: (1) Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội của địa
phương, UBND cấp tỉnh quyết
định việc phân loại cụ thể chất thải rắn sinh hoạt với thời hạn áp
dụng chậm nhất là ngày 31/12/2024; (2) Tại các
điểm tập kết rác thải, nếu phát hiện việc phân loại không đúng quy định thì đơn
vị thu gom, vận chuyển có quyền từ chối thu gom, vận chuyển và thông báo cơ
quan có thẩm quyền để kiểm tra, xác định hộ gia đình, cá nhân vi phạm và xử lý
nghiêm (thông qua hệ thống camera giám sát); (3) Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội các cấp vận động cộng đồng
dân cư, hộ gia đình, cá nhân thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại
nguồn. Cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội có trách nhiệm giám sát
việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt của các hộ gia đình, cá nhân; (4) UBND cấp xã có trách nhiệm kiểm tra
việc tuân thủ, xử lý hoặc chuyển cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo quy định.
Ngoài ra, rác thải sinh hoạt phát
sinh từ hộ gia đình, cá nhân khu vực nông thôn sau khi phân loại được khuyến
khích tận dụng tối đa lượng chất thải thực phẩm làm phân bón hữu cơ, làm thức
ăn chăn nuôi để phù hợp với điều kiện nông thôn (nêu ví dụ chứng minh)
- Nhằm hướng tới
phát triển kinh tế tuần hoàn, tăng cường tái chế, tái sử dụng phế liệu trong nước
để hạn chế việc nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, ngoài quy định
trách nhiệm phân loại chất thải rắn công nghiệp phát sinh từ cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ thành các loại: (1) nhóm chất thải
rắn công nghiệp thông thường được tái sử dụng, tái chế làm nguyên liệu sản xuất;
(2) nhóm chất thải rắn đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật được
sử dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng và san lấp mặt bằng; (3) nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường phải xử lý thì Luật cũng đã quy định trách nhiệm mở rộng của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu
các sản phẩm, bao bì có khả năng tái chế/khó có khả năng tái chế phải thu hồi với
tỷ lệ và quy cách bắt buộc hoặc thông qua hợp đồng dịch vụ hoặc cơ chế đóng góp
tài chính để hỗ trợ tái chế sản phẩm, bao bì do mình sản xuất, nhập khẩu.
3.5. Luật hoá thẩm quyền quản lý nhà nước trên nguyên tắc quản lý tổng hợp, thống nhất, một
việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện; phân cấp triệt để cho địa
phương
- Việc thực hiện song song thủ tục cấp giấy phép, giấy xác nhận về môi trường
với cấp phép xả nước thải vào công trình thủy lợi trong thời gian qua đã bộc lộ
nhiều bất cập, hạn chế.
Để khắc phục vấn đề này, Luật đã bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, xả
nước thải vào công trình thủy lợi mà lồng ghép nội dung này trong Giấy phép môi
trường nhằm thống nhất trách nhiệm, thẩm quyền và nguyên tắc quản lý tổng hợp
tài nguyên nước; đồng thời giảm bớt TTHC cho doanh nghiệp.
- Phân cấp cụ thể cho địa phương thông qua chế định giao UBND cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với
các bộ có liên quan thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án thuộc thẩm quyền
phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư của các Bộ quản lý công trình
xây dựng chuyên ngành;
quy định các bộ có liên quan có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp tỉnh trong quá trình thực hiện nhằm bảo đảm hiệu quả.
3.6. Luật hoá việc kiểm toán môi trường nhằm tăng cường năng lực, hiệu quả quản lý môi trường
của doanh nghiệp
Thông qua luật hoá
kiểm toán môi trường nhằm điều chỉnh hoạt động kiểm
toán trong nội bộ tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ do đơn vị tự thực
hiện hoặc thông qua dịch vụ kiểm toán. Từ đó tăng cường năng lực quản lý môi trường của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp
nhận biết lỗ hổng trong quản lý và có giải pháp điều chỉnh hoạt động quản lý
môi trường được hiệu quả hơn. Đồng thời quy định Kiểm toán
nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường theo quy định của Luật
Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan.
3.7. Cụ thể hóa các quy định về ứng phó biến đổi khí hậu, thúc đẩy phát triển thị trường các-bon trong nước
Luật đã bổ sung các quy định về thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ô-zôn, trong đó xác định
nội dung và trách nhiệm của Bộ TN&MT, các Bộ, ngành liên quan và địa phương
về thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; bổ sung quy định về lồng ghép nội dung này vào hệ thống chiến lược, quy hoạch, thực hiện cam kết quốc tế về BĐKH và bảo vệ tầng
ô-dôn.
- Luật cũng quy định tổ chức và phát triển thị trường các-bon như
là công cụ để thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện đóng góp
về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính do Việt Nam cam kết khi tham gia Thỏa thuận
Paris về BĐKH. Quy định rõ đối tượng được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính và có
quyền trao đổi, mua bán trên thị trường các-bon trong nước; căn cứ xác định hạn
ngạch phát thải khí nhà kính; trách nhiệm của các cơ quan quản lý, tổ chức liên quan trong việc phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính; lộ trình và thời điểm
triển khai thị trường các-bon trong nước để phù hợp với điều kiện kinh tế
- xã hội của đất nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (lấy ví dụ minh họa)
3.8. Hoàn thiện
hành lang pháp lý bảo vệ di sản thiên nhiên phù hợp với pháp luật quốc tế về di
sản thế giới, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế
Năm 1987, Việt Nam đã tham gia Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế
giới, tuy nhiên, pháp luật của Việt Nam về quản lý di sản thiên nhiên chưa nội
luật hóa đầy đủ và tương thích với nội dung của Công ước. Các quy định về đối
tượng là di sản thiên nhiên của Việt Nam đang được quy định tản mạn trong một số
pháp luật như: Luật Đa dạng sinh học, Luật Lâm nghiệp, Luật Thủy sản…do đó, chưa bao quát được toàn bộ các đối tượng là di sản thiên nhiên cần bảo
vệ (như công viên địa chất toàn cầu, khu dự trữ sinh quyển, khu đất ngập nước
có tầm quan trọng quốc tế, vườn di sản ASEAN). Điều này tạo ra rào cản trong
quá trình hội nhập và thực hiện Công ước di sản thế giới mà Việt Nam đã tham
gia, phát sinh nhiều vấn đề chưa được xử lý trong thực tiễn quản lý hiện nay.
Để khắc phục các bất cập này, Luật BVMT 2020 đã đưa ra các quy định về tiêu chí xác lập di sản
thiên nhiên dựa trên cơ sở các tiêu chí của quốc tế và thực tiễn điều kiện Việt
Nam hiện nay; trong đó đối với các đối tượng là di sản thiên nhiên đã được quy
định trong pháp luật về lâm nghiệp, thủy sản, đa dạng sinh học và di sản văn
hóa thì vẫn thực hiện theo các quy định này để tránh xáo trộn, chồng chéo. Đồng
thời, quy định việc điều tra, đánh giá, quản lý và BVMT di sản thiên nhiên để bảo
vệ, phát huy giá trị bền vững di sản thiên nhiên ở nước ta.
3.9. Tạo lập chính
sách phát triển các mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững,
thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, phục hồi và phát triển nguồn vốn tự nhiên
- Ở nước ta, nhiều chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển
nền kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững cũng đã được ban hành
nhưng còn thiếu cơ sở pháp lý tạo nền tảng cho thúc đẩy các mô hình kinh tế
này. Vốn
tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm tài nguyên đất, tài
nguyên nước, tài nguyên rừng, nguồn lợi thủy sản, khoáng sản, nhiên liệu hóa thạch,
các nguồn năng lượng tự nhiên và các dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên. Cũng giống
như các dạng vốn khác (vốn vật chất, vốn tài chính và vốn con người), vốn tự
nhiên cũng có thể bị suy giảm và suy thoái do quá trình sản xuất và tiêu dùng.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, với mô hình tăng trưởng trước đây, chúng ta mới
chỉ tập trung tích lũy nhanh vốn vật chất, tài chính và con người mà thiếu đi sự
quan tâm tới sự suy giảm, cạn kiệt của vốn tự nhiên, tạo ra những rủi ro và
thách thức lớn cho thế hệ tương lai.
Để giải quyết vấn
các vấn đề này, đồng thời tạo động lực phát triển bền vững và nâng cao chất lượng
tăng trưởng và sự thịnh vượng quốc gia, Luật BVMT 2020 đã bổ sung một chương về các công cụ kinh tế và nguồn lực cho BVMT tập trung vào các chính sách về phát triển ngành công nghiệp môi
trường, dịch vụ môi trường, sản phẩm, dịch
vụ thân thiện môi trường; ưu tiên thực hiện mua sắm xanh đối với dự án, nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước; thúc đẩy việc khai thác, sử dụng và phát triển vốn
tự nhiên; đặc biệt là thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, bổ sung chính
sách về tín dụng xanh, trái phiếu xanh để huy động đa dạng các nguồn lực xã hội
cho BVMT.
Cùng
với đó, luật cũng đã quy định các nội dung sau:
-
Trách nhiệm của các Bộ (TN&MT, Công an, Quốc phòng) và UBND các cấp
trong tổ chức, chỉ đạo thực hiện kiểm tra, thanh tra về BVMT; quy định tần suất thanh tra BVMT (không quá một lần/năm đối với một tổ chức, cá
nhân, riêng các đối tượng chấp hành tốt công tác BVMT là không quá một lần/02
năm liên tiếp, trừ trường hợp thanh tra đột xuất) để giảm phiền hà, chồng chéo
cho doanh nghiệp. Việc
thanh tra, kiểm tra đột xuất trong lĩnh vực BVMT không phải
công bố, thông báo trước nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động này.
- Quy định về hoạt động kiểm tra chấp hành pháp luật về BVMT của các cơ quan
nhà nước, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan để tránh chồng chéo; kiểm tra của
lực lượng cảnh sát môi trường chỉ thực hiện khi có dấu hiệu tội phạm, có tố
giác, tin báo tội phạm về môi trường hoặc theo kế hoạch được Bộ trưởng Bộ
TN&MT hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt.
- Nâng thời hiệu xử
lý VPHC trong lĩnh vực BVMT từ 02 năm lên 10 năm để đảm bảo phù hợp với tính chất đặc thù của các HVVP trong lĩnh vực
môi trường. Tăng mức
xử phạt vi phạm hành chính theo hướng không khống chế mức phạt
tiền tối đa mà có thể tính mức phạt theo giá trị số lợi
thu được từ hành vi vi phạm. Quy định cách tính mức phạt theo ngày, phạt lũy tiến
theo kinh nghiệm các nước tiên tiến đang áp dụng; luật
hóa trách nhiệm của cá nhân, tổ chức có liên
quan, đặc biệt là cán bộ phụ trách môi trường của doanh nghiệp để bảo đảm đủ sức răn đe, phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT.
- Quy định quyền của các lực lượng (thanh tra xây dựng, giao thông, tổ
chức, cá nhân quản lý công viên, khu vui chơi, giải trí, khu du lịch…) được xử
lý vi phạm về BVMT nơi công cộng, trong hoạt động xây dựng, phương tiện tham gia giao thông; quy cơ chế xử phạt nhanh bằng biên lai thu tiền trực tiếp
và cho
phép giữ lại một phần hoặc toàn bộ số tiền xử phạt tại các cơ quan, tổ chức để duy trì hoạt
động BVMT nhằm huy động sự tham gia của các lực lượng này trong phát hiện và xử lý vi phạm về BVMT.
- Luật cũng quy định thêm các biện pháp xử lý hành chính khác để xử lý hành vi vi phạm hành chính về BVMT như: lao động công ích; giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc nhằm đảm bảo tính khả thi, răn đe với cá nhân có hành vi vi phạm bảo vệ môi trường tại nơi công cộng.
Phần thứ hai
Quy định của pháp luật về bảo
vệ môi trường- Thực trạng và giải pháp bảo vệ môi trường trong Quân đội và lực
lượng vũ trang quân khu
I.
Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường
1. Xử phạt hành chính: Cá nhân, tổ chức trong nước và cá nhân, tổ chức nước ngoài (kể cả hộ
gia đình, hộ kinh doanh cá thể) có hành vi VPHC trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa của Việt Nam đều bị xử phạt theo quy định tại:
+ Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
+ Nghị định số 55/2021/NĐ-CP ngày 24/5/2021 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một
số điều Nghị định số 155/2016.NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
2. Xử lý hình sự: Hành vi vi phạm đến mức phải xử lý hình sự
thì đối tượng sẽ bị xét xử về các tội phạm về môi trường (Điều 235 đến Điều 246
của BLHS) như:
* Tội gây ô nhiễm môi trường:
- Do cá nhân gây ra: phạt tiền thấp nhất từ (50
đến 500) triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Cao nhất từ (1 đến 3)
tỷ đồng hoặc phạt tù từ 3 năm đến 7 năm.
- Nếu do pháp nhân thương mại gây ra: phạt tiền
thấp nhất từ 3 tỷ dến 7 tỷ đồng; cao nhất từ 12 tỷ đến 20 tỷ đồng hoặc đình chỉ
hoạt động có thời hạn, vĩnh viễn.
*
Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải
nguy hại
- Nếu do cá nhân vi phạm: phạt
tiền từ (50 đến 200) triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt
tù từ 03 tháng đến 02 năm; cao nhất thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
- Nếu do pháp nhân thương mại gây ra: phạt tiền
thấp nhất từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng; cao nhất từ 5 tỷ đến 10 tỷ đồng hoặc đình chỉ
hoạt động có thời hạn, vĩnh viễn.
* Tội vi phạm quy định về bảo vệ an
toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về
bảo vệ bờ, bãi sông
- Do cá nhân vi phạm: phạt
tiền từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03
năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm; cao nhất thì bị phạt tù từ 05 năm đến
10 năm:
- Do pháp nhân thương mại gây ra: phạt tiền
thấp nhất từ 300 triệu đến 1 tỷ đồng; cao nhất từ 3 tỷ đến 5 tỷ đồng hoặc đình
chỉ hoạt động có thời hạn, vĩnh viễn.
* Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt
Nam
- Do cá nhân vi phạm: phạt
tiền từ 200 triệu đến 1 tỷ đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt
tù từ 06 tháng đến 03 năm; cao nhất thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- Do pháp nhân thương mại gây ra: phạt tiền thấp nhất từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng; cao nhất từ 3 tỷ đến 5 tỷ đồng hoặc
đình chỉ hoạt động có thời hạn, vĩnh viễn.
II. Thực
trạng và giải pháp bảo vệ môi trường trong quân đội và lực lượng vũ trang quân
khu
1.
Thực trạng công tác BVMT trong quân đội thời gian qua
Với phương châm “Ở đâu có hoạt động của bộ
đội thì ở đó có hoạt động BVMT”, trong những năm qua, công tác BVMT đã được các
cơ quan, đơn vị trong toàn quân quan tâm và thu được những kết quả đáng kể.
Trong đó đã chú ý tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm về BVMT
cho quân nhân. Bộ Quốc phòng đã ban hành các văn bản pháp quy và tổ chức triển
khai học tập Luật BVMT, quán triệt Chỉ thị của Bộ trưởng về nhiệm vụ BVMT trong
quân đội cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng trong toàn quân.
Nhiều đơn vị đã tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, tọa đàm về BVMT, cuộc thi “Viết
về môi trường trong quân đội”; tổ chức nhiều hoạt động hưởng ứng “Ngày môi trường
thế giới 5/6”, “Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn”; phát động thi đua “Xây dựng
và quản lý doanh trại chính quy, xanh, sạch đẹp” giữa các đơn vị…
Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa
học công nghệ trong lĩnh vực BVMT, theo số liệu báo cáo của Cục Khoa học Quân sự
- Bộ Quốc phòng, từ năm 2005 đến nay đã có gần 200 công trình cấp Nhà nước và cấp
Bộ Quốc phòng liên quan đến lĩnh vực BVMT được nghiên cứu và triển khai ứng dụng
trong thực tiễn như: Xử lý chất thải công nghiệp, chất thải độc hại ở các cơ sở
sản xuất, sửa chữa quốc phòng; xử lý chất thải y tế ở các bệnh viện, chất độc
hóa học tồn lưu sau chiến tranh; xử lý nước sinh hoạt cho bộ đội… Bộ Quốc phòng
cũng đã triển khai, thành lập 3 trạm quan trắc môi trường thuộc mạng lưới quốc
gia (Viện Hoá Học và Môi trường Quân sự - Bộ Tư lệnh Hóa học; Trung tâm Quan trắc
và phân tích môi trường biển - Quân chủng Hải quân; Viện Nhiệt đới môi trường -
Viện Khoa học và công nghệ quân sự) nhằm kịp thời phát hiện, kiểm soát, giám
sát ô nhiễm môi trường và triển khai các biện pháp xử lý sự cố môi trường. Một
số đơn vị, nhà máy, cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ quân sự đã tiến hành
quan trắc môi trường quân sự và tham gia quan trắc môi trường quốc gia, nghiên
cứu công nghệ xử lý môi trường và triển khai các hoạt động cải thiện chất lượng
môi trường.
Đối với Quân khu 2, trong tháng 2 năm 2022, Bộ Tư lệnh Quân khu phối hợp
cùng Bộ Tư lệnh Hóa học triển khai lắp đặt Trạm quan trắc phóng xạ không khí, đất
(IRMS) tại Quân khu 2, nhằm phát hiện sớm, xử lý kịp thời những bất thường về
phóng xạ trong không khí, đất quanh khu vực cơ quan Quân khu.
Bộ Quốc phòng cũng luôn tích cực, chủ động
đẩy mạnh hợp tác quốc tế về BVMT, ứng phó biến đổi khí hậu, đặc biệt với các nước
ASEAN; xây dựng và tổ chức lực lượng làm nòng cốt trong phòng, chống thiên tai
và khắc phục sự cố môi trường; tham gia tích cực công tác xử lý, khắc phục, cải
tạo môi trường, rà phá bom mìn và xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh. Đến
nay các đơn vị hóa học đã điều tra được 283 huyện, quận, thị xã của 34 tỉnh và
một số cụm kho, kho lớn của Tổng cục Kỹ thuật, các Quân khu: 4, 5, 7, 9; phát
hiện, thu gom và xử lý hơn 344 tấn chất độc CS và vũ khí, đạn dược, phương tiện
chứa chất độc CS (trong đó có hơn 160 tấn chất độc CS và trên 184 tấn vũ khí, đạn
dược chứa CS). Các khu kinh tế quốc phòng đóng quân ở địa bàn biên giới đã trồng
mới, chăm sóc và bảo vệ được hàng chục nghìn ha rừng, tạo thêm việc làm cho
hàng chục ngàn lao động là nhân dân vùng cao, vùng xa, góp phần xóa đói, giảm
nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho dân cư, ổn định chính trị - xã hội,
quốc phòng - an ninh…
Những kết quả đạt được trong công tác BVMT
của đơn vị quân đội đã góp phần cùng với các bộ, ngành và nhân dân giảm thiểu đáng
kể tình trạng ô nhiễm, đảm bảo môi trường trong sạch cho phát triển kinh tế -
xã hội và an ninh môi trường quốc gia.
- Cùng với những kết quả đã đạt được, công tác BVMT trong quân đội cũng
còn tồn tại một số hạn chế như: (1) Hoạt động
môi trường quân sự còn thiếu quy hoạch tổng thể; việc xử lý một số sự cố môi
trường bức xúc ở các đơn vị, cơ sở sản xuất quốc phòng, bệnh viện còn chậm; (2)
việc lồng ghép giữa thực hiện nhiệm vụ chính trị đơn vị với việc thực hiện Luật
BVMT và các quy định khác của Nhà nước còn nhiều bất cập; (3) trình độ trang
thiết bị, công nghệ sản xuất quốc phòng nhìn chung còn lạc hậu, có nơi công nghệ
sản xuất quá cũ nên đã phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường, thậm
chí có chất thải quân sự gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; (4) việc đầu tư
các nguồn lực cho công tác BVMT chưa tương xứng; nguồn nhân lực chuyên trách
cho công tác BVMT còn mỏng, chủ yếu vẫn là kiêm nhiệm; (5) công tác BVMT ở một
số đơn vị vẫn chưa thực sự trở thành hoạt động thường xuyên và được coi trọng
đúng mức; (6) nhận thức về công tác BVMT của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và chiến
sĩ có nơi còn hạn chế, chưa ngang tầm…
2. Một số giải pháp bảo vệ môi trường trong quân đội và lực lượng vũ trang quân khu
Quán triệt và thực hiện có hiệu quả Luật
BVMT; Điều lệ công tác BVMT và ứng phó với biết đổi khí hậu của Quân đội; Chiến
lược bảo vệ môi trường của Bộ quốc phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng liên quan đến công tác BVMT; các cơ quan, đơn vị
trong toàn quân nói chung và LLVTQK nói riêng cần tập trung làm tốt một số giải
pháp sau:
2.1. Cấp ủy, người chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần nâng cao
nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác BVMT cho cán bộ, chiến
sĩ, công nhân viên chức quốc phòng; đưa nội dung BVMT thành chỉ tiêu thi đua ở
các đơn vị. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ… nắm
chắc các văn bản quy định của Luật BVMT, các nghị định, quyết định, chỉ thị của
Chính phủ giao nhiệm vụ cho quân đội tham gia BVMT... Khẳng định BVMT đối với
quân đội là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và là “nhiệm vụ chiến đấu trong
thời bình”. Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức tuyên truyền về công tác BVMT
thông qua: Tuyên truyền miệng, các hội thi, hội thao, các hoạt động văn hóa văn
nghệ…, lồng ghép giáo dục về BVMT trong các chỉ thị, nghị quyết, chương trình,
kế hoạch thực hiện nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị mình. Phát động các phong trào
thi đua xây dựng “doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp”; trồng cây gây rừng...
Xây dựng, bồi dưỡng điển hình, kịp thời biểu
dương các đơn vị, doanh nghiệp quân đội đạt chuẩn quốc tế về môi trường, đủ điều
kiện cấp chứng chỉ ISO 14001/2004; kiên quyết đấu tranh phê phán những việc làm
sai trái, những hành vi phá hoại môi trường sinh thái, thực hiện quy định “Người
gây ô nhiễm môi trường phải trả tiền xử lý BVMT”.
2.2. Củng cố, hoàn chỉnh
hệ thống các văn bản pháp quy và kiện toàn các tổ chức BVMT ở các đơn vị trong
toàn quân. Kịp thời cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, quân
đội về hoạt động BVMT phù hợp với điều kiện hoạt động của các đơn vị. Nghiên cứu
đặc điểm môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực đóng quân, dự báo những
vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe và hoạt động của bộ đội, qua đó có biện pháp BVMT
sát thực. Trong điều kiện không có cơ quan chuyên trách về môi trường ở các đơn
vị cơ sở, cần phải lồng ghép các hoạt động của cán bộ, chiến sĩ, nhân viên theo
chức trách với hoạt động BVMT một cách linh hoạt, sáng tạo.
2.3. Triển khai nhiệm
vụ BVMT trong tất cả các hoạt động quân sự ở các cơ quan, đơn vị, trong tất cả
các nhiệm vụ thường xuyên cũng như đột xuất đều cần phải tính toán đến các tác động
tiêu cực đến môi trường từ đó đặt ra các tiêu chí, nhiệm vụ BVMT. Tiếp tục đẩy
mạnh khắc phục hậu quả chất độc hóa học, bom, mìn và vật liệu nổ còn sót sau
chiến tranh; gương mẫu đi đầu trong giữ gìn, bảo tồn, phục hồi tài nguyên thiên
nhiên và đa dạng sinh học: trồng, bảo vệ rừng, cải tạo cảnh quan, phát triển
các mô hình kinh tế kết hợp với quốc phòng; nghiên cứu các giải pháp phòng và
chống khủng bố môi trường, phòng chỗng vũ khí hoá học, sinh học và hạt nhân…
2.4. Xây dựng các tiêu chí cụ thể về BVMT sinh thái đối với các
khu vực sản xuất, sửa chữa, thử nghiệm vũ khí, khí tài, trang bị và nơi ăn ở,
sinh hoạt của các đơn vị. Gắn việc thực hiện đầy đủ các tiêu chí về BVMT sinh
thái là một nội dung thi đua, bình xét khen thưởng hàng năm của các đơn vị.
2.5. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách, các
chuyên gia về lĩnh vực BVMT. Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo và huấn
luyện nội dung BVMT trong các nhà trường quân đội; liên kết đào tạo với các cơ
sở giáo dục về lĩnh vực môi trường trong và ngoài nước. Thường xuyên tổ chức tập
huấn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác BVMT và có chính sách quan tâm đến đội
ngũ cán bộ này.
2.6. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất,
phương tiện kỹ thuật, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ BVMT và
nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về
BVMT. Các cơ quan, đơn vị quân đội cần tăng cường đầu tư hệ thống quan trắc, xử
lý ô nhiễm môi trường, chất thải quân sự, sử dụng nguồn năng lượng sạch, xử lý
nguồn nước theo công nghệ tiên tiến, hiện đại. Trong đó cần ưu tiên giải quyết
những yêu cầu về cải thiện chất lượng cung cấp nước sinh hoạt cho bộ đội, bảo đảm
vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, chuyển dịch các công nghệ lạc hậu
gây ô nhiễm sang công nghệ sạch và thân thiện môi trường. Nâng cao năng lực
tham gia hoạt động quan trắc và giám sát môi trường (chất độc hóa học, phóng xạ,
môi trường biển) đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng và quốc gia.
![]()
HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN, ÔN TẬP VÀ HOẠT ĐỘNG
BỔ TRỢ
A.
HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN
I.
NỘI DUNG
Câu
1.
Đồng chí cho biết các hành vi nghiêm cấm trong Luật bảo vệ môi trường?
Câu
2. Đồng chí cho biết tại sao cộng đồng dân cư
được quy định là một chủ thể trong công tác BVMT?
Câu 3. Để bảo vệ môi
trường trong Quân đội, theo đồng chí cần có những giải pháp nào?
II. PHƯƠNG PHÁP: Đối thoại trực tiếp
hoặc thông qua kiểm tra thu hoạch do Ban tổ chức lớp học tổ chức.
III. THỜI GIAN: 20 phút.
IV. ĐỊA ĐIỂM: tại các cơ quan,
đơn vị.
V. PHỤ TRÁCH: Giáo viên lớp học.
VI. TÀI LIỆU:
-
Luật Bảo vệ môi trường 2020.
- Đề cương giới thiệu
luật Bảo vệ môi trường của Bộ Tài nguyên môi trường và Bộ Tư pháp.
- Bộ luật hình sự 2015.
- Nghị định số 155/2016.NĐ-CP ngày
18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 55/2021/NĐ-CP
ngày 24/5/2021 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số
155/2016.NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính
phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
B. HOẠT ĐỘNG BỔ TRỢ: Không./.
[1] Với 878 khu đô thị, 280 khu công
nghiệp (KCN), 683 cụm công nghiệp (CCN), hơn 500.000 cơ sở sản xuất, trên 3.500
doanh nghiệp khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng, hơn 5.400 làng nghề, hơn
13.000 cơ sở y tế đang hoạt động... hàng ngày phát sinh hơn 9.000.000 m3 nước thải sinh hoạt (tỷ lệ thu gom
khoảng 12%), 650.000 m3 nước thải công nghiệp, 125.000 m3
nước thải y tế.
[2] Hiện mới có 250/280 KCN đang hoạt
động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung (đạt 89,28%); 115/683 CCN đang hoạt
động có hệ thống xử lý nước thải tập trung (đạt 16,8%).
[3] Mỗi năm, lượng chất thải rắn (CTR)
gia tăng khoảng 10% và có xu hướng tiếp tục gia tăng. Thống kê sơ bộ của Bộ
TN&MT năm 2019 cho thấy, cả nước phát sinh hơn 61.000 tấn CTR sinh hoạt/ngày
(hơn 37.000 tấn/ngày tại đô thị và hơn 24.000 tấn/ngày tại nông thôn). Tỷ lệ
thu gom CTR sinh hoạt khu vực đô thị của các địa phương đạt từ 62% đến hơn 90%,
tại khu vực nông thôn trung bình cả nước mới được khoảng từ 45% đến 60%.
[4] Hiện nay, đã xác định được 600
loài thực vật và 611 loài động vật hoang dã trong thiên nhiên bị đe dọa (tăng
329 loài so với Sách đỏ Việt Nam 2007) đề xuất đưa vào Sách đỏ Việt Nam thời
gian tới.
[5] Sự cố cháy nổ tại Công ty Cổ phần
phích nước Rạng Đông, sự cố ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt do vụ việc đổ bùn thải
trái phép tại tỉnh Hòa Bình.
[6] Sự cố môi trường tại 4 tỉnh miền
Trung.
[7] Đã có khoảng 34 quốc gia với 118
mô hình tiêu biểu thực hiện việc chuyển dịch này thông qua các chiến lược, kế
hoạch hành động đến ban hành các chính sách, pháp luật về kinh tế tuần hoàn nhằm
xác định trách nhiệm của nhà sản xuất, người dân và nhà nước, thúc đẩy phát triển
các ngành công nghiệp môi trường, hình thành thị trường cung cấp dịch vụ xử lý
rác thải để huy động nguồn lực tư nhân, giảm đầu tư của nhà nước.
[8] Theo dự báo của Liên hợp quốc, đến
năm 2030 nếu tiếp tục phát triển với mô hình kinh tế tuyến tính, nhu cầu sử dụng
tài nguyên thiên nhiên sẽ tăng gấp 3 lần so với hiện nay, vượt ngoài khả năng
cung ứng của Trái Đất; lượng chất thải sẽ vượt qua giới hạn sức chịu tải của
môi trường.
[9] Riêng về tiêu thụ than, từ năm
2015 Việt Nam trở thành nước nhập khẩu than đá, dự báo tới năm 2030, nước ta có
thể phải nhập khẩu tới 100 triệu tấn than mỗi năm. Sử dụng tài nguyên nước hiệu
quả còn thấp so với các nước trên thế giới và khu vực: Việt Nam chỉ tạo ra 2,37
USD/m3 nước, chỉ bằng khoảng 1/10 so với mức trung bình toàn cầu là 19,42 USD;
thấp hơn nếu so với Lào (2,53 USD), Philippines (2,58 USD). Tác động của nguồn
nước ô nhiễm lên sức khỏe con người, có thể làm giảm 3,5% GDP vào năm 2035.

0 Nhận xét