NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
(Chuyên đề đã được thông qua Tổ tư vấn pháp luật Tòa án quân sự Quân khu 2)
Phần thứ nhất
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, MẠNG VIỄN THÔNG
I.
Tình hình tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông ở Việt Nam trong những năm qua
Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông
(CNTT, MVT) chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam trong khoảng hơn một thập kỷ qua, bên cạnh sự phát triển vượt bậc của CNTT, thì tình hình tội phạm trong lĩnh vực này cũng phát triển rất nhanh chóng. Hiện tại, tội phạm trong lĩnh vực này có những diễn biến phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh
vực như kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng, gây thiệt hại nghiêm
trọng về kinh tế, làm gián đoạn hoạt động của các cơ quan, tổ chức, sự điều
hành của Chính phủ, hạn chế hiệu quả công tác triển khai ứng dụng CNTT phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội, đặc biệt đe dọa đến an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Thời
gian qua, các ổ nhóm, đường dây tội phạm CNTT, MVT sau khi
bị phát hiện, xử lý mạnh đã nhanh chóng thay đổi phương thức, thủ đoạn mới nhằm
đối phó với lực lượng chức năng. Hoạt động của tội phạm CNTT, MVT tại Việt Nam ngày càng mang đậm tính chất của tội
phạm có tổ chức và tội phạm xuyên quốc gia.
Theo số lượng Bản án hình
sự về tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT được công bố trên Cổng Thông tin điện
tử Tòa án (thời gian từ ngày 01/12/2018 đến ngày 31/12/2021) cho
thấy: Tội phạm CNTT, MVT có hành vi
sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS) chiếm 46,8%; Tội phạm
có hành vi xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương
tiện điện tử của người khác (Điều 289 BLHS) chiếm 27,22%; Tội
phạm có hành vi sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn
thông để mua bán thông tin, làm giảm uy tín cá nhân, tổ chức (Điều 288 BLHS),
chiếm 19%; Tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT còn lại chiếm 7%.
Đối tượng phạm tội thường sử dụng các thủ đoạn
sau: Trộm cắp, mua bán, sử dụng thông tin thẻ tín dụng để thanh toán dịch vụ, mua hàng hóa; Truy cập trái phép mạng viễn thông để nối ghép với kênh trạm thu phát tín hiệu nhằm trộm
cắp cước phí viễn thông; Tấn công email của cá nhân, tổ chức, sử dụng thông tin của nạn nhân để chiếm đoạt tài sản;
Sử dụng CNTT, MVT nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng
hình thức lập trang web mua bán trực tuyến, bán hàng đa cấp trên mạng…gây
thiệt hại về tài sản, uy tín cho tổ chức, cá nhân cũng như ảnh hướng tới hệ
thống bảo mật thông tin hạ tầng mạng viễn thông của Nhà nước ta.
II.
Khái niệm, đặc điểm của tội phạm trong
lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông
1. Khái niệm tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT
Trong Luật Viễn thông 2009, khái niệm
mạng viễn thông được hiểu là “Tập hợp thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng đường
truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông”. Lĩnh vực CNTT, MVT liên
quan đến việc ứng dụng, phát triển CNTT,
MVT, tạo ra môi trường không gian mạng[1].
Theo Luật An ninh mạng 2018, “Tội phạm mạng là hành vi sử dụng không gian
mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để thực hiện tội phạm được
quy định tại Bộ luật Hình sự”.
Theo Nghị định 25/2014/NĐ-CP ngày
07/4/2014 của Chính phủ thì “Tội phạm có sử dụng
công nghệ cao là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình
sự có sử dụng công nghệ cao”.
Theo Luật Công nghệ cao 2008, công nghệ
cao là “Công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo
ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân
thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa
ngành sản xuất, dịch vụ hiện có”. Trong đó, CNTT, MVT là một trong những lĩnh vực của công nghệ cao.
Có thể thấy, khái niệm tội phạm liên quan
đến CNTT, MVT vẫn chưa
có sự thống nhất về phạm vi và thuật ngữ. Tuy nhiên, cho dù ở phạm vi rộng hay
hẹp và sử dụng thuật ngữ nào, khái niệm về tội phạm liên quan đến CNTT, MVT có
một số đặc điểm chung như sau:
Thứ
nhất, đây là loại tội phạm mới, được thực hiện trong môi trường không gian mạng
và người phạm tội sử dụng CNTT, MVT để thực hiện tội phạm. Điều đó làm cho tội
phạm liên quan đến CNTT, MVT khác cơ bản so với các tội phạm truyền thống.
Thứ
hai, người phạm
tội sử dụng CNTT,
MVT là mục
tiêu tấn công, công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm.
Thứ
ba, tội phạm
liên quan đến CNTT, MVT có phạm vi rộng. Người phạm tội có thể sử dụng CNTT,
MVT để thực hiện nhiều tội phạm như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội
xâm phạm, nhân phẩm danh dự con người, các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ, các tội
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng. Phạm vi sẽ ngày càng mở rộng theo sự phát triển và ứng dụng rộng rãi
của CNTT, MVT trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, tội phạm liên quan
đến CNTT, MVT được quy định ở nhiều chương trong BLHS.
Tuy nhiên,
trong phạm vi chuyên đề, chúng tôi tập trung xem xét “Tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT” với tư cách là một nhóm tội riêng được quy định trong BLHS.
Tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT bao gồm các tội phạm cùng xâm phạm
tới một nhóm quan hệ xã hội cùng loại được pháp luật hình sự bảo vệ. Đó là nhóm quan hệ
xã hội đảm bảo sự an toàn của không gian mạng. Tội phạm trong lĩnh vực CNTT,
MVT là một nhóm nhỏ nằm trong tội phạm liên quan đến CNTT, MVT, bao gồm các tội
phạm xâm hại đến sự an toàn của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện
điện tử, dữ liệu điện tử. Đối với một số tội phạm được quy định
trong BLHS 2015 tuy có sử dụng CNTT, MVT để phạm tội nhưng không được coi là
tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT như: Tội làm nhục người khác; Tội đánh bạc; Tội tổ chức
đánh bạc; Tội lợi dụng
quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân… Các tội này
có thể được đề cập đến trong chuyên đề nhưng không phải vấn đề trọng tâm.
Từ cơ sở phân tích trên, có thể rút ra khái niệm tội phạm trong lĩnh vực
CNTT, MVT như sau: “Tội phạm trong lĩnh vực CNTT,
MVT là tội phạm có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do
người có năng lực TNHS sử dụng CNTT, MVT thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm an
toàn mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử.”
2. Đặc điểm
của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông
Trên cơ sở khái niệm, tội phạm trong lĩnh vực
CNTT, MVT gồm những đặc điểm như
sau:
-
Tội phạm xâm phạm đến sự
an toàn của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, dữ liệu điện
tử.
- Người thực hiện hành vi phạm tội là người có kiến thức về lĩnh vực CNTT, MVT, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định
tại Điều 12 BLHS.
- Hành vi của tội phạm rất đa dạng, phức tạp với những thủ đoạn
tinh vi, thường xuyên thay đổi theo sự phát triển và ứng dụng của CNTT, MVT
trong đời sống.
-
Người phạm tội sử dụng CNTT, MVT làm
công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội.
-
Hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực
CNTT, MVT rất nghiêm trọng nhưng lại dễ che giấu, khó phát hiện ra.
-
Thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Phần thứ hai
TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN, MẠNG VIỄN THÔNG
I. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo quy
định của BLHS
BLHS 2015 quy định tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT tại Mục 2 (Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông) thuộc Chương XXI (Các tội xâm
phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng) bao gồm 09 tội (từ
Điều 285 - Điều 294).
(1) Tội sản xuất, mua bán,
trao đổi, tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái
pháp luật (Điều 285)
Biểu hiện của
tội phạm: Sản
xuất, mua bán, trao đổi, tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm có tính năng tấn
công mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để sử dụng vào mục
đích trái pháp luật.
|
Hành vi phạm tội |
Hình phạt áp dụng |
|
Sản
xuất, mua bán, trao đổi, tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm có tính năng
tấn công mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để sử dụng vào
mục đích trái pháp luật |
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt
cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm |
|
Phạm tội có tổ chức; 02 lần trở lên; Có tính chất chuyên nghiệp; Thu
lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Gây thiệt hại về
tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm |
Phạt tiền từ
100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm |
|
Phạm tội nhằm thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên; Gây thiệt hại
về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên |
Phạt tiền từ
500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm |
|
Hình phạt bổ sung áp dụng đối
với người phạm tội |
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản |
(2) Tội phát
tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn
thông, phương tiện điện tử (Điều 286)
Biểu hiện của
tội phạm: Phát
tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn
thông, phương tiện điện tử. Người phạm tội cố ý lan truyền chương trình tin học
gây hại đến nhiều mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử. Nạn nhân
sẽ là bất kỳ người dùng nào vô tình bị lây nhiễm chương trình tin học gây hại
đó.
|
Hành vi phạm tội |
Hình phạt áp dụng |
|
Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến
dưới 200.000.000 đồng; Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000
đồng; Làm lây nhiễm từ 50 phương tiện điện tử đến dưới 200 phương tiện điện
tử hoặc hệ thống thông tin có từ 50 người sử dụng đến dưới 200 người sử dụng;
Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này,
chưa được xóa án tích mà còn vi phạm |
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến
200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06
tháng đến 03 năm |
|
Phạm tội có tổ chức; Thu lợi bất chính
từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Gây thiệt hại từ 300.000.000
đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Làm lây nhiễm từ 200 phương tiện điện tử
đến dưới 500 phương tiện điện tử hoặc hệ thống thông tin có từ 200 người sử
dụng đến dưới 500 người sử dụng; Tái phạm nguy hiểm |
Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm |
|
Phạm tội đối với hệ thống dữ liệu thuộc
bí mật nhà nước, hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh, cơ sở hạ
tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; Hệ
thống thông tin tài chính, ngân hàng; Hệ thống thông tin điều khiển giao
thông; Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên; Gây thiệt hại
1.000.000.000 đồng trở lên; Làm lây nhiễm 500 phương tiện điện tử trở lên
hoặc hệ thống thông tin có từ 500 người sử dụng trở lên |
Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm |
|
Hình phạt bổ sung áp dụng đối
với người phạm tội |
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến
200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ 01 năm đến 05 năm. |
Ví dụ: T là sinh viên một trường đại học tại Hà Nội, đã có hành
vi phát tán vi - rút lây lan qua Zalo, Messenger với tốc độ nhanh. Vi - rút này khi nhiễm vào một máy tính sẽ
vừa gửi link nguy hại tới tất cả các cá nhân trong list của người sử dụng, vừa đặt lại
status (dòng trạng thái) của họ thành những câu bêu xấu lãnh đạo cơ quan, tổ
chức hoặc một số tin giật gân nhằm dễ dàng đánh lừa các nạn nhân.
(3) Tội cản
trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện
điện tử (Điều 287)
Biểu hiện của
tội phạm:
+/ Tự ý xóa,
làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu điện tử. Sau khi dữ liệu, phần mềm
bị xoá, bị làm tổn hại hoặc làm thay đổi mạng máy tính, mạng viễn thông, phương
tiện điện tử sẽ ngừng, tạm ngừng hoạt động hoặc bị rối loạn.
+/ Ngăn chặn
trái phép việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương
tiện điện tử với phương thức thực hiện tội phạm thường là tấn công từ chối dịch
vụ; tấn công vào cơ sở dữ liệu, can thiệp vào phần mềm hệ thống, phá hoại dữ
liệu từ đó làm tê liệt hoạt động bình thường của hệ thống máy tính, mạng viễn
thông, phương tiện điện tử.
+/ Gây rối
loạn, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mạng máy tính, mạng viễn
thông, phương tiện điện tử bằng cách làm hư hỏng, xóa, làm suy giảm, thay thế
hoặc nén dữ liệu máy tính, thiết bị viễn thông, phương tiện điện tử.
|
Hành vi phạm tội |
Hình phạt áp dụng |
|
Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến
dưới 200.000.000 đồng; Gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng; Làm tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng
viễn thông, phương tiện điện tử từ 30 phút đến dưới 24 giờ hoặc từ 03 lần đến
dưới 10 lần trong thời gian 24 giờ; Làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ
chức từ 24 giờ đến dưới 72 giờ; Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi
này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm |
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc
phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm |
|
Phạm tội có tổ chức; Lợi dụng quyền quản
trị mạng máy tính, mạng viễn thông; Tái phạm nguy hiểm; Thu lợi bất chính từ
200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Gây thiệt hại từ 500.000.000
đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng; Làm tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động
của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử từ 24 giờ đến dưới
168 giờ hoặc từ 10 lần đến dưới 50 lần trong thời gian 24 giờ; Làm đình trệ
hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 72 giờ đến dưới 168 giờ |
Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1 tỷ
đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm |
|
Phạm tội đối với hệ thống dữ liệu thuộc
bí mật nhà nước, hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh; Đối với cơ
sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc
gia, hệ thống thông tin, giao dịch tài chính, ngân hàng, hệ
thống thông tin điều khiển giao thông; Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng
trở lên; Gây thiệt hại 1.500.000.000 đồng trở lên; Làm tê liệt, gián đoạn,
ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
168 giờ trở lên hoặc 50 lần trở lên trong thời gian 24 giờ; Làm đình trệ hoạt
động của cơ quan, tổ chức 168 giờ trở lên |
Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm |
|
Hình phạt bổ sung áp dụng đối
với người phạm tội |
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến
200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ 01 năm đến 05 năm |
(4) Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
(Điều 288)
- Biểu hiện của
tội phạm:
+/ Đưa lên
mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật.
Thủ đoạn phạm tội thường là tạo ra một trang thông tin điện tử có chứa thông
tin trái pháp luật, đưa trang thông tin điện tử đó lên internet; sử dụng các
trang mạng xã hội như facebook, zalo… để đăng tải hoặc chia sẻ, bình luận về
những thông tin trái quy định của pháp luật.
+/ Mua bán,
trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu hoặc
người quản lý thông tin đó.
+/ Theo dõi
thu thập thông tin bất hợp pháp về cá nhân, tổ chức khác; không được phép sử
dụng thông tin nhưng vẫn sử dụng; không đăng ký, chưa được cấp phép nhưng vẫn sử dụng thông tin; sử dụng thông tin giả.
|
Hành vi phạm tội |
Hình phạt áp dụng |
|
Người phạm tội có một trong các biểu hiện trên |
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng,
phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm |
|
Phạm tội có tổ chức; Lợi dụng quyền quản trị mạng
máy tính, mạng viễn thông; thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên; Gây
thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên; Xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị
xâm phạm tự sát hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội |
Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng
hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm |
|
Hình phạt bổ sung áp dụng đối
với người phạm tội |
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng,
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm |
Ví dụ (vụ án Tòa án nhân dân huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử): Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến
năm 2017, Phạm Văn Hưng có quan hệ tình cảm
với chị Nguyễn Thị Thảo. Trong thời gian
này, chị Thảo có sử dụng tài khoản Facebook cá nhân tên “Tóc đẹp” và
đã cho Hưng biết mật khẩu của tài khoản nên Hưng có thể đăng nhập vào được. Sau đó, Hưng và chị Thảo không yêu nhau nữa,
chị Thảo cũng không thay đổi mật khẩu tài khoản Facebook của mình nên Hưng vẫn thường xuyên
truy cập vào tài khoản của Thảo. Đến khoảng tháng
6/2019, Hưng đã tự ý thay đổi địa chỉ đăng nhập từ số điện thoại
“0965.325.513”, mật khẩu là
“Tinhvutru” thành số điện thoại “0379.699.390”, mật khẩu là “Hainghiem123456789” và giữ nguyên tên
Facebook là “Tóc đẹp”, giữ nguyên ảnh đại diện là ảnh chụp của Thảo và những thông tin cá nhân khác của tài khoản và chỉ một
mình Hưng có thể truy cập được vào tài khoản này. Sau khi phát
hiện tài khoản Facebook của mình bị người khác chiếm đoạt quyền truy cập, chị Thảo đã sử dụng tài khoản Facebook khác để đăng tải
lên Facebook về việc tài khoản “Tóc đẹp” đã bị người khác
chiếm đoạt và chị Thảo không còn sử dụng tài khoản đó nữa. Mặc dù không
được phép, nhưng Hưng vẫn cố tình sử dụng thông tin cá nhân của chị Thảo nhằm
mục đích cá nhân. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 288 BLHS, Hưng bị xử phạt 06
tháng tù.
(5) Tội xâm nhập trái phép vào
mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều
289)
- Biểu hiện
của tội phạm: Truy cập vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử mà
không được sự đồng ý của người chủ sở hữu hoặc người quản lý điều hành mạng máy
tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử đó, bằng những thủ đoạn như:
+/ Vượt qua
cảnh báo, thông báo không cho phép người không có thẩm quyền truy cập vào cơ sở
dữ liệu;
+/ Vượt qua mã
truy cập (vượt qua những điều kiện bắt buộc đáp ứng một tiêu
chí chuẩn nhất định trước khi sử dụng) truy cập tới thiết bị, nội dung dữ liệu được bảo vệ;
+/ Vượt qua tường
lửa để xâm nhập trái phép (tường lửa là tập hợp các thành phần hoặc một hệ thống các trang thiết
bị, phần mềm hoặc phần cứng được đặt giữa hai hay nhiều mạng nhằm kiểm soát tất
cả những kết nối từ bên trong ra bên ngoài và ngược lại, đồng thời ngăn chặn
việc xâm nhập, kết nối trái phép);
+/ Sử dụng
quyền quản trị của người khác (sử dụng quyền quản lý,
vận hành, khai thác và duy trì hoạt động ổn định hệ thống mạng máy tính, mạng
viễn thông của cá nhân, tổ chức);
+/ Các phương
thức xâm nhập trái phép khác như bẻ khóa, trộm mật khẩu, mật mã của người khác
để xâm nhập trái phép hoặc xâm nhập vật lý như mở khóa cửa vào phòng, khu vực không thuộc phận sự để truy cập vào mạng máy tính, mạng viễn thông,
phương tiện điện tử.
Sau khi đã xâm nhập trái phép, người phạm tội thực hiện chiếm quyền điều khiển
mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử; Can thiệp vào chức năng
hoạt động của phương tiện điện tử; Lấy cắp dữ liệu điện tử; Thay đổi, huỷ hoại dữ liệu điện tử; Làm giả dữ liệu điện tử; Sử dụng trái phép các dịch
vụ.
|
Hành vi phạm tội |
Hình phạt áp dụng |
|
Người phạm tội có hành vi vượt qua cảnh báo, thông
báo không cho phép; Vượt qua mã truy cập; Vượt qua tường lửa… |
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng
hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm |
|
Phạm tội có tổ chức; Lợi dụng chức vụ,
quyền hạn; Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Đối với trạm
trung chuyển internet quốc gia, hệ thống cơ sở dữ liệu tên miền và hệ thống
máy chủ tên miền quốc gia; Tái phạm nguy hiểm |
Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến
1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm |
|
Phạm tội đối với hệ thống dữ liệu thuộc
bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh; Đối với cơ
sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc
gia; Hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; Hệ thống thông tin điều khiển
giao thông; Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên; Gây thiệt hại
1.000.000.000 đồng trở lên |
Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm |
|
Hình phạt bổ sung áp dụng đối
với người phạm tội |
Phạt tiền từ 5.000.000
đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm |
Ví dụ (vụ án Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 2 xét xử): Khoảng tháng 6/2014, Lâm Vừ
Minh Vũ nhận nhiệm vụ làm nhân viên kênh quản lý điểm bán của Viettel Hà Giang, được
Tập đoàn Viettel
cấp cho một tài khoản nội bộ, một máy tính để bàn và một tài khoản cá nhân để đăng nhập,
truy cập vào kênh trao đổi dữ liệu của Tập đoàn. Trong quá trình làm việc, Vũ tải
một số file dữ liệu điện tử về máy tính để bàn và mở ra xem thì thấy các file
này chứa dữ liệu về thông tin khách hàng (số thuê bao, thông tin tiêu dùng, gói
cước…). Đến tháng 4/2017, Vũ không làm nhiệm vụ quản lý điểm bán nữa nhưng vẫn
sử dụng tài khoản, mật khẩu được cấp để truy cập trái phép vào hệ thống của Viettel để tải 426 file dữ liệu thông tin khách hàng
và sao lưu vào các USB, ổ cứng di động cá nhân. Mục đích ban đầu của Vũ là
để tìm hiểu, sau này mới nảy sinh ý định bán để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Từ
ngày 11/6/2017 đến ngày 06/7/2017, Vũ lập 02 hộp thư điện tử và gửi thư tới các
lãnh đạo Tập đoàn Viettel để thông báo về việc có lỗ hổng bảo mật thông tin đề nghị Tập đoàn bịt
lại, ngược lại, Tập đoàn Viettel phải cảm ơn Vũ từ 100 đến 120 bitcoin. Hành vi của Vũ đã vi phạm quy định an toàn
thông tin mạng và Quy chế Bảo mật và an toàn thông tin của Tập đoàn
Viettel. Áp dụng khoản
1 Điều 226a BLHS 1999, Vũ bị xử phạt 40.000.000 đồng.
Ví dụ (vụ án Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 2 xét xử):
Trong khoảng thời gian từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2020, Quyết mặc dù không được phép nhưng đã thuê và sử dụng quyền
khai thác 16 tài khoản nội bộ của Tập đoàn Viettel, xâm nhập trái phép, dùng
phần mềm can thiệp vào chức năng hoạt động của hệ thống máy chủ trong mạng máy
tính, mạng viễn thông của Tập đoàn Viettel và lấy cắp dữ liệu người dùng, sao
chép về các máy tính cá nhân với mục đích phục vụ cho hoạt động mua bán sim số
của mình. Hành vi của Quyết đã xâm phạm tới hệ thống bảo mật
thông tin dữ liệu người dùng của Tập đoàn Viettel. Áp dụng khoản
1 Điều 289 BLHS, Quyết bị xử phạt 80.000.000 đồng.
(6) Tội sử dụng
trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản (Điều 290)
- Biểu hiện của
tội phạm:
+/ Sử dụng
thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm
đoạt tài sản của chủ thẻ, chủ tài khoản hoặc thanh toán dịch vụ, mua hàng hóa
(điểm a khoản 1 Điều 290 BLHS 2015).
Khi có thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng của nạn nhân,
người phạm tội sẽ sử dụng tài khoản, thẻ ngân hàng đó để chiếm đoạt tài sản của
chủ tài khoản, chủ thẻ như rút tiền, chuyển tiền sang tài khoản khác hoặc thẻ
ngân hàng khác hoặc thanh toán dịch vụ, mua hàng hóa mà người phạm tội sử dụng
hoặc mua. Để có được thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng của nạn nhân, người phạm
tội có thể ngẫu nhiên biết được, trộm cắp thông tin, mua hoặc có được thông tin
từ những người bán, cung cấp bất hợp pháp.
+/ Làm, tàng
trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của
chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ (điểm b khoản 1 Điều
290 BLHS 2015). Thẻ ngân hàng giả là thẻ không do tổ chức phát hành thẻ phát
hành nhưng có chứa các thông tin của thẻ thật, chủ thẻ thật.
+/ Truy cập
bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài
sản (điểm c khoản 1 Điều 290 BLHS 2015). Tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá
nhân bao gồm: tài khoản ngân hàng; tài khoản các mạng xã hội như Facebook,
Zalo, email…
+/ Lừa đảo
trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn,
kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch
chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản (điểm d khoản 1 Điều 290
BLHS 2015).
+/ Thiết lập,
cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản (điểm đ
khoản 1 Điều 290 BLHS 2015).
Là hành vi
thiết lập, cung cấp dịch vụ viễn thông, internet nhưng không được phép hoặc
không đúng giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp nhằm chiếm đoạt tài
sản. Người
phạm tội sử dụng kỹ thuật chiếm đoạt cước viễn thông, sử dụng thiết bị thu
phát tín hiệu qua vệ tinh để chuyển cuộc gọi ra nước ngoài bất hợp pháp. Với
thiết bị là một ăng-ten parabol và một thiết bị xử lý tín hiệu chuyển đổi, các
cuộc đàm thoại quốc tế sẽ giống như cuộc gọi trong nước. Do đó, người phạm tội
chỉ phải thanh toán cước điện thoại trong nước thay vì phải thanh toán cước
điện thoại quốc tế. Qua đó, chiếm đoạt được
khoản tiền cước chênh lệch.
|
Biểu hiện của tội phạm |
Hình phạt áp dụng |
|
Người phạm tội có hành vi sử dụng thông tin, thẻ tài
khoản ngân hàng của người khác; Làm, tàng trữ, mua bán thẻ ngân hàng giả… |
Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm
hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm |
|
Phạm tội có tổ chức; Phạm tội 02 lần trở
lên; Có tính chất chuyên nghiệp; Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ;
Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Gây
thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm |
Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm |
|
Chiếm đoạt tài sản trị giá từ
200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng
đến dưới 500.000.000 đồng; Số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ |
Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm |
|
Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000
đồng trở lên; Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên; Số lượng thẻ giả 500
thẻ trở lên |
Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm |
|
Hình phạt bổ sung áp dụng đối
với người phạm tội |
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản |
Ví dụ (trường hợp phạm
tội theo điểm a khoản 1 Điều 290): A đã trộm cắp 01 thẻ ATM Viettin Bank của B (cùng phòng trọ với nhau). Do
biết được mật khẩu thẻ ATM của B, A đã trộm thẻ ATM của B, đến cây ATM để thực hiện rút tiền. A đã rút và chiếm đoạt được số tiền 2.225.000 đồng.
Ví dụ (trường hợp phạm
tội theo điểm b khoản 1 Điều 290): Năm 2018, tại thành phố Hồ Chí Minh, C được
D hướng dẫn cách sử dụng thiết bị làm thẻ ngân hàng giả. D giao 175 phôi thẻ cho C. Sau khi nhận phôi thẻ, C dùng thiết bị in dữ liệu vào thẻ (Dữ liệu do D gửi vào email của C). Kết quả C đã làm được 60 thẻ giả loại ATM, 115 thẻ giả
loại Visa và Master. D thỏa thuận chia cho C hưởng 10% số tiền chiếm đoạt được và C giao thẻ cho các đối tượng của D để thực hiện các giao
dịch rút tiền và thanh toán hàng hóa, dịch vụ hàng trăm triệu đồng.
Ví dụ (trường
hợp phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 290 - vụ án Tòa án quân sự Khu vực
Quân khu 1 xét xử): Tháng 6/2019, Phạm Khánh Hùng là nhân viên kỹ thuật của
UBND xã Minh Khai, tỉnh Lạng Sơn, được giao nhiệm vụ thực hiện chi trả lương
cho cán bộ, nhân viên xã. UBND xã mở tài khoản tại Ngân hàng MB Bank do ông
Đăng là chủ tịch làm chủ tài khoản, mục đích để phê duyệt lương, tài khoản này
liên kết với tài khoản của bà Thơm (kế toán) để nhập danh sách bảng lương. Do
kỹ năng sử dụng công nghệ còn hạn chế, ông Đăng và bà Thơm đã cung cấp tài
khoản ngân hàng (gồm tên đăng nhập và mật khẩu) cho Phạm Khánh Hùng. Lợi dụng
việc đó, tháng 9 và tháng 10/2019, Hùng sử dụng máy tính kết nối mạng Internet
đăng nhập vào hệ thống quản lý khách hàng, dùng phần mềm sửa thông tin cá nhân
của bà Thơm, làm giả hồ sơ, tự mình ký tên và phê duyệt bảng lương, chiếm đoạt
số tiền 40.000.000 đồng. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290 BLHS, Hùng bị xử phạt
12 tháng tù.
Ví dụ (trường hợp phạm tội theo
điểm d khoản 1 Điều 290 - Lừa đảo trong lĩnh vực thương mại điện tử): B đã có hành vi lừa đảo qua mạng internet bằng hình thức đăng quảng
cáo trên mạng và giao bán đồ gia dụng như sau: Khi có khách hàng mua, B yêu cầu đặt cọc nhưng sau
đó không giao hàng, không trả lại tiền, cắt đứt liên lạc để chiếm đoạt tài sản
của bị hại. Với thủ đoạn này, B đã lừa đảo 03 người, chiếm đoạt hơn 170.000.000 đồng.
Ví dụ (trường hợp phạm tội theo
điểm d khoản 1 Điều 290 - Lừa đảo trong thanh toán điện tử): D mở tài khoản sử dụng có tên là transfermoney.wix.com trong đó có
các mục như: tên ngân hàng, chủ thẻ, dãy số in trên thẻ, hiệu lực thẻ… Mục đích
của D là khi bị hại vào trang web sẽ bị lừa để lại thông tin cá nhân của mình.
D sẽ sử dụng những thông tin này để truy cập vào tài khoản của nạn nhân rút
tiền qua dịch vụ internet banking. Sau đó, D chiếm đoạt quyền sử dụng của tài
khoản Facebook của những người Việt Nam ở nước ngoài, mạo danh trò chuyện với
người thân của họ đề nghị mượn số tài khoản ngân hàng để chuyển tiền từ nước
ngoài về Việt Nam, rồi D đăng ký tin nhắn miễn phí có mã vùng
nước ngoài rồi nhắn tin vào số điện thoại của người bị hại với nội dung “tài
khoản của bạn đã nhận được tiền từ một tài khoản ở nước ngoài chuyển đến”; đồng
thời cung cấp một đường link do D lập để người bị hại truy cập, điền các thông
tin tài khoản ngân hàng để nhận tiền (những thông tin này thực chất sẽ được
chuyển về cho D). D sử dụng các thông tin tài khoản ngân hàng của nạn nhân để
truy cập vào tài khoản, chuyển tiền đến tài khoản ví điện tử của D. Sau đó, D
tiếp tục trò chuyện với nạn nhân yêu cầu nhập
mã OTP gửi về điện thoại của
nạn nhân để hoàn tất việc chuyển tiền. Sau khi có mã OTP của nạn nhân D nhập mã
và hoàn tất chuyển tiền từ tài khoản của nạn nhân sang tài khoản của D. Với thủ
đoạn này, D đã chiếm đoạt tài sản của 03 nạn nhân với tổng số tiền là 274.000.000 đồng.
Ví dụ (trường hợp phạm tội theo
điểm d khoản 1 Điều 290 - Lừa đảo trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, huy động
vốn): T và V bàn bạc thống nhất với nhau thuê người lập
website ảo, vận động nhiều người tham gia đầu tư tài chính có lãi suất cao để
lừa đảo chiếm đoạt tiền. Hai đối tượng đã đưa ra thông tin website này có trụ
sở hoạt động tại Vương quốc Anh, chuyên kinh doanh lĩnh vực sòng bài, vũ trường, du lịch…cần huy động
vốn lớn, lợi nhuận cao. Nhiều người đã tin tưởng và gửi tiền góp vốn cho 02 đối tượng trên với số
tiền là 7,1 tỷ đồng. Hai đối tượng trên đã chiếm đoạt số tiền trên của các nạn
nhân.
Ví dụ (trường hợp phạm tội theo
điểm d khoản 1 Điều 290 - Lừa đảo trong kinh doanh đa cấp):
H đã sử dụng thủ đoạn gian dối lập ra 03 website giao dịch thương mại điện tử gồm giaodichtructuyen.com.vn,
nhadat.com.vn và vionline.com.vn để bán các gian hàng thương mại điện tử, kinh
doanh bất động sản để hoạt động kinh doanh đa cấp không có giấy phép. Mặc dù
không có hàng hoá để bán nhưng H đã đưa ra thông tin sai về hàng hoá, khả năng
sinh lợi cao và các phần thưởng có giá trị để tạo niềm tin cho người bị hại đóng
tiền tham gia. Với mô hình bán hàng
đa cấp H đã bán cho khoảng 180 người trên 20 tỉnh, thành phố trong cả nước, với
số tiền trên 50 tỷ đồng.
Ví dụ (trường hợp phạm tội theo
điểm d khoản 1 Điều 290 - Lừa đảo trong giao dịch chứng khoán): Người phạm tội tạo ra chứng khoán giả để bán
hoặc hứa trả lợi nhuận cao để huy động vốn đầu tư chứng khoán sau đó chiếm đoạt
vốn hoặc dụ người mua cổ phiếu chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng trung gian
để chuyển cho Công ty chứng khoán nhưng thực chất là chuyển vào tài khoản của
đối tượng lừa đảo nhằm chiếm đoạt số tiền.
Ví dụ (trường hợp phạm tội theo điểm đ khoản 1 Điều 290):
Sử dụng bất hợp pháp
đường truyền internet để chiếm đoạt cước viễn thông. Thông thường, các cuộc gọi
quốc tế được truyền qua mạng internet về Việt Nam sẽ được Công ty Viễn thông Quốc tế Việt Nam dùng
thiết bị ghép nối kênh để kết nối với các máy điện thoại cố định hoặc thẻ SIM
điện thoại di động trong nước và ngược lại. Người gọi phải trả cước viễn thông
tính theo cuộc gọi, thời gian gọi. Thủ đoạn người phạm tội sử dụng là thuê một
kênh nội bộ, sau đó bí mật sử dụng bất hợp pháp thiết bị ghép nối kênh để từ mạng
nội bộ có thể liên lạc trực tiếp với mạng điện thoại công cộng bằng điện thoại
cố định hoặc thẻ SIM điện thoại di động. Khi gọi điện thoại quốc tế, thay vì
phải trả cước viễn thông quốc tế có chi phí cao, đối tượng chỉ phải trả tiền
thuê kênh nội bộ có phí internet giá
rẻ. Qua đó, người phạm tội chiếm đoạt được khoản tiền cước
phí viễn thông quốc tế.
(7) Tội thu thập, tàng trữ, trao
đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về
tài khoản ngân hàng (Điều 291)
Biểu hiện của
tội phạm: Thu
thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin tài khoản
ngân hàng của người khác. Đó là hành vi của người không có thẩm quyền nhưng đã
cố ý thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hoá thông tin về tài
khoản ngân hàng của người khác mà không được sự cho phép của chủ tài khoản ngân
hàng đó.
|
Hành vi phạm tội |
Hình phạt áp dụng |
|
Thu
thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin tài
khoản ngân hàng của người khác |
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm |
|
Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán,
công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với
số lượng từ 50 tài khoản đến dưới 200 tài khoản; Phạm tội có tổ chức; Có tính
chất chuyên nghiệp; Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000
đồng; Tái phạm nguy hiểm |
Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến
200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm |
|
Thu thập, tàng trữ,
trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng
của người khác với số lượng 200 tài khoản trở lên; Thu lợi bất chính
200.000.000 đồng trở lên |
Phạt tiền từ
200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm |
|
Hình phạt bổ sung áp dụng đối
với người phạm tội |
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản |
II. Một số tội phạm khác liên quan đến công nghệ thông tin, mạng viễn
thông phổ biến hiện nay
Hiện nay, ngoài các tội trong lĩnh vực CNTT, MVT còn có những tội phạm khác mà người phạm tội
sử dụng công nghệ CNTT, MVT để thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến những
nhóm quan hệ xã hội khác được pháp luật bảo vệ (ví dụ: hành vi sử dụng công nghệ cao để đánh bạc hoặc hành vi sử dụng chức
năng của mạng xã hội trên Internet có phát ngôn xâm phạm đến nhân phẩm, danh
dự, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân…).
Ví dụ: Vụ án Nguyễn Văn Dương (Nguyên Chủ tịch HĐTV
Công ty TNHH đầu tư phát triển công nghệ cao CNC) cùng Phan Sào Nam (Nguyên Chủ
tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty VTC Online) và nhiều đối tượng khác điều hành
hệ thống trò chơi Game bài Rikvip (đánh bạc dưới hình thức các trò chơi như:
tài xỉu, bài tiến lên, phỏm, bầu cua… trên mạng). Người chơi chỉ cần tạo tài
khoản trên điện thoại, máy tính, nạp tiền vào tài khoản Game theo hình thức thẻ
điện thoại, ví điện tử hoặc tài khoản ngân hàng là có thể tham gia đánh bạc. Quá
trình vận hành, Nguyễn Văn Dương, Phan Sào Nam và các đối tượng đã lôi kéo được
rất nhiều người chơi, số tài khoản đăng ký lên đến hơn 43 triệu lượt, thu lợi
hơn 9.800 tỷ đồng. Ngoài những đối tượng trực tiếp tham gia tổ chức đánh bạc,
còn một số cán bộ cấp cao, là tướng lĩnh Công an (Phan Văn Vĩnh - Nguyên Tổng
cục trưởng Tổng cục Cảnh sát; Nguyễn Thanh Hóa - Nguyên Cục trưởng Cục Cảnh sát
phòng chống tội phạm công nghệ cao Bộ Công an) cũng liên quan đến đường dây
này, có các hành vi phạm tội như tổ chức đánh bạc; lợi dụng chức vụ, quyền hạn
trong khi thi hành công vụ.
Vụ việc Bà Nguyễn Phương Hằng (Tổng
Giám đốc Công ty Cổ phần Đại Nam). Bà Hằng nổi lên sau những buổi livestream
trên Facebook về những tranh chấp với ông Võ Hoàng Yên. Từ đó, bà Hằng đã lợi
dụng sức ảnh hưởng của bản thân, sử dụng chức năng của mạng xã hội trên
Internet, tổ chức nhiều buổi phát trực tiếp với nhiều nội dung thông tin không
được kiểm chứng, liên quan đến đời tư của người khác, trong đó sử dụng nhiều những
ngôn từ mang tính chất nhục mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, đối với nhiều nghệ
sĩ nổi tiếng Hoài Linh, Đàm Vĩnh Hưng, Thủy Tiên, Trấn Thành, MC Đại Nghĩa… Bà
Hằng tố những nghệ sĩ này đã ăn chặn tiền quyên góp cho đồng bào miền Trung bị
ảnh hưởng bởi lũ lụt năm 2020. Sau đó, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã vào cuộc điều
tra và kết luận các nghệ sĩ này không có hành vi gian dối, không chiếm đoạt
tiền từ thiện. Tuy nhiên, bà Hằng vẫn tiếp tục livestream, dùng những ngôn từ
phản cảm, bôi nhọ danh dự của những người được bà nhắc đến. Ngoài ra, bà Hằng cùng
một số đối tượng khác còn tổ chức đến nhà nhiều người đang có mâu thuẫn với
mình, dẫn đến tập trung đông người, gây mất an ninh trật tự ở nhiều địa phương.
Ngày 24/3/2022, bà Hằng bị Công an TP. HCM bắt về hành vi “Lợi dụng các quyền tự
do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân” quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự.
Phần thứ ba
MỘT
SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN, MẠNG VIỄN THÔNG
Thực
tiễn cho thấy, Internet nói chung và các trang mạng xã hội nói riêng với tốc độ
thông tin nhanh, nội dung phong phú, đa dạng… đã đem lại rất nhiều tiện ích cho
người sử dụng. Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng
sức mạnh lan truyền của Internet, mạng xã hội như một phương tiện truyền thông
đắc lực để thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước… Nội dung chống
phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động thông qua thông tin trên
mạng xã hội rất đa dạng, từ kinh tế, xã hội đến văn hóa, giáo dục, y tế, pháp
luật, quốc phòng, an ninh… gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, đe dọa an ninh quốc
gia. Hiện
nay, tại địa bàn Quân khu 2 của chúng ta, cũng có số lượng không nhỏ quân nhân đang
tham gia vào các nhóm mạng xã hội Facebook, như: Tình yêu người lính - Bộ đội
Cụ Hồ, Tâm tình hậu phương và người lính, Nhóm Fanpage Bộ đội, Ảnh chú bộ đội
Group, Giao lưu kết bạn Bộ đội - Công an - Giáo viên - Ngành nghề khác… Những
trang Fanpage này thu hút hàng chục, hàng trăm nghìn lượt follow, với nhiều nội
dung đăng tải, truyền bá không được kiểm chứng dễ dấn đến cách nhìn sai lệch
cho người xem, ảnh hưởng đến hình ảnh của người chiến sĩ - Bộ đội Cụ Hồ.
Vì
vậy, trong định hướng phát triển của Lực lượng vũ trang Quân khu, bên cạnh áp dụng ứng dụng công nghệ thông tin để nâng
cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, cán bộ, chiến sĩ trên địa bàn cũng cần phải quan tâm, chú trọng
đến công tác đấu
tranh tư tưởng
với những thế lực thù địch trên không gian mạng. Qua đó giúp việc sử dụng mạng xã hội hiệu quả hơn, biến mạng xã hội thành một phương
tiện, một kênh hữu ích để tuyên truyền tính đúng đắn, cách mạng, khoa học của
các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trong thời gian
tới, cần thiết phải có những biện pháp như sau:
* Đối với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn Quân khu
Một
là, tiếp tục tập trung triển khai, thực hiện có hiệu quả
các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng về ứng dụng, phát triển CNTT đi
đôi với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, trọng tâm là Nghị quyết số
52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ
động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bên cạnh đó, cơ
quan, đơn vị trên địa bàn cần tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm Chỉ thị số 118-CT/QUTW
ngày 20/02/2017 của Quân ủy Trung ương về việc tăng cường công tác bảo vệ chính
trị nội bộ Quân đội trong tình hình hiện nay; coi trọng công tác giáo dục chính
trị, tư tưởng, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần cảnh giác; kịp
thời phát hiện những biểu hiện tiêu cực, sai trái; xử lý nghiêm những cán bộ,
đảng viên vi phạm quy định của Ban chấp hành Trung ương về những điều Đảng viên
không được làm, nhất là phát ngôn, tuyên truyền, phát tán tài liệu trái cương
lĩnh, Điều lệ Đảng. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt
động chống phá của các thế lực thù địch, phản động nhằm phá hoại, gây mất đoàn
kết trong nội bộ làm cho nội bộ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Hai
là, nghiên cứu chính sách pháp luật và nâng cao hiệu lực,
hiệu quả trong quản lý cơ quan, đơn vị về lĩnh vực CNTT, MVT và an ninh mạng. Thực
hiện nghiêm Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng, Luật Công nghệ
thông tin, Luật Viễn thông và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thường xuyên tổ
chức cuộc thi về tìm hiểu an ninh mạng, CNTT, MVT và nhận diện thủ đoạn của tội
phạm trong lĩnh vực này.
Ba
là, tăng cường thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh
mạng và đấu tranh phòng, chống tội phạm trên không gian mạng, tội phạm CNTT,
MVT. Triển khai đồng bộ các giải pháp để bảo đảm an ninh mạng cho hệ thống
thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, bí mật quân sự; phát hiện, đấu tranh
ngăn chặn sớm hoạt động tấn công mạng, gián điệp mạng, âm mưu, hoạt động chống
phá của các thế lực thù địch, phản động trên mạng.
Bốn
là, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong lĩnh
vực CNTT, MVT và an ninh mạng tại cơ quan, đơn vị để kịp thời tiếp thu công
nghệ mới và kinh nghiệm nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của tình hình công nghệ số.
Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển CNTT. Đề ra quy chế, chính sách riêng nhằm
khuyến khích, tạo điều kiện cho cán bộ, nhân viên nghiên cứu khoa học, phát
triển và ứng dụng CNTT và an ninh mạng.
Năm
là, phát
huy hiệu quả vai trò
của lực lượng 47, Ban chỉ đạo
94, gắn đấu tranh với xây dựng môi
trường văn hóa, củng cố trận địa tư tưởng; tận dụng tốt việc ứng dụng các tiện
ích, kỹ thuật, công nghệ, tiện ích của mạng internet để mỗi cơ
quan, đơn vị hình thành và phát
triển những trang mạng riêng có “thương hiệu”, từ đó không chỉ mọi quân nhân mà
các bạn đọc ở trong và ngoài nước được chia sẻ, comment, thể hiện thái độ phản
đối, đấu tranh trước các thông tin xấu, độc của các thế lực thù địch hoặc chia
sẻ các thông tin tích cực phản ánh bản chất, truyền thống tốt đẹp của cán bộ,
chiến sĩ quân đội trong thực hiện các nhiệm vụ, công tác, sinh hoạt thường
ngày… nhằm tạo sức lan tỏa của “dòng chủ lưu” để lấy “thông tin tích cực đẩy
lùi thông tin tiêu cực”, “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu” trong đơn vị mình.
Sáu
là, xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan, ban, ngành,
địa phương trong lĩnh vực bảo đảm an ninh mạng. Tổ chức các lớp tập huấn để
nâng cao nhận thức và năng lực bảo vệ an ninh mạng cho cán bộ, nhân viên thực
hiện nhiệm vụ.
Bảy là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng chống tội phạm
và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực CNTT, MVT tại cơ quan, đơn vị. Qua đó, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ vận động, tuyên truyền rộng rãi đến các thành viên trong gia đình, bạn bè,
người thân để cùng hiểu rõ, nâng cao tinh thần cảnh giác, không trở
thành nạn nhân của tội phạm.
Tám là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp
ủy, chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống vi phạm kỷ luật, pháp
luật trong Quân đội; chủ động phát hiện kịp thời nguyên nhân, diễn
biến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ có hiệu vi phạm pháp luật, kỷ luật; phối hợp
chặt chẽ với cơ quan chức năng để kịp thời giải quyết, xử lý.
* Đối với quân nhân trong Lực lượng vũ trang Quân khu
Một là, nêu cao tinh thần
trách nhiệm tham gia phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật đối với tội phạm CNTT, MVT
bằng cách bảo vệ mật khẩu, khóa mật khẩu, cơ sở dữ liệu, thông tin cá nhân,
thông tin tài khoản và hệ thống thiết bị công nghệ cao của mình. Không công khai các thông
tin cá nhân, như: Ngày tháng, năm sinh, số CMND/CCCD, số điện thoại, số tài
khoản Ngân hàng... lên mạng xã hội để tránh bị các đối tượng lợi dụng khai
thác, sử dụng thủ đoạn lừa đảo; khi chia sẻ thông tin trên mạng xã hội cần chọn
lọc những thông tin có thể chia sẻ công khai hoặc thông tin giới hạn người xem.
Không cung cấp mã OTP do Ngân hàng gửi cho bất kỳ ai, kể cả nhân viên Ngân
hàng.
Hai là, trên cơ sở nắm vững các văn bản pháp
luật liên quan đến lĩnh vực CNTT, MVT, mỗi quân nhân phải biến trang mạng xã hội của mình thành
một kênh thông tin hữu ích để tuyên truyền những thông tin chính thống về chủ
trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Đồng thời phải
thường xuyên tham gia phân tích, bình luận, chia sẻ các bài viết về những điển
hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, những mô hình mới, cách làm hay, xây
dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong phong trào thi đua quyết thắng ở cơ
quan, đơn vị mình.
Ba là, khi
phát hiện đối tượng sử dụng CNTT, MVT có hành vi
vi phạm pháp luật, cần kịp thời tố giác và phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức
năng trong quá trình xác minh làm rõ tội phạm, cung cấp các
thông tin, tài liệu cần thiết có liên quan cho cơ quan chức
năng khi được yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Bốn là, mỗi đồng chí Học viên, Chính trị viên cần
tăng cường tham gia công tác tuyên truyền, phản bác những quan điểm sai trái,
thông tin xấu độc của thế lực thù địch, phản động trên môi trường không gian
mạng; Dựa vào những thông tin chính thống,
hướng dẫn của các cơ quan chức năng để cung cấp nhanh, chính xác cho quân nhân trong cơ quan, đơn
vị mình.
Năm là, ngoài trách
nhiệm phòng ngừa, ngăn chặn đối với tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT nói riêng,
mỗi cán bộ, nhân viên, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị cần phải
nâng cao ý thức tự giác, chấp hành nghiêm các chế độ quy định của đơn vị, tu
dưỡng rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức, đấu tranh ngăn ngừa và từng bước
loại trừ các vi phạm, tội phạm ra khỏi đời
sống sinh hoạt của đơn vị, góp phần xây dựng đời sống văn hoá tinh thần lành
mạnh trong đơn vị trong quân đội và toàn xã hội.
HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN, ÔN TẬP VÀ HOẠT ĐỘNG BỔ TRỢ
A. HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN
I.
NỘI DUNG
Câu 1: Hành vi
vượt tường lửa, xâm nhập và chiếm quyền điều khiển mạng máy tính, mạng viễn
thông thì mức xử phạt như thế nào?
a) Bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng;
b) Bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ
01 năm đến 05 năm;
c) Bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải
tạo không giam giữ đến 03 năm;
d) Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05
năm.
Câu
2: Hành vi sử dụng chức năng
của máy tính, thiết bị di động thông qua mạng Internet, nhằm mục đích đánh bạc
có phải là tội phạm trong lĩnh vực CNTT, MVT không? Giải thích?
Câu 3: Tội sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn
thông, phương tiện điện tử thực hiện chiếm đoạt tài sản, bao gồm những hành vi
nào?
a) Sử dụng thông
tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài
sản của chủ thẻ, chủ tài khoản hoặc thanh toán dịch vụ, mua hàng hóa; Làm, tàng trữ, mua bán, sử
dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ
thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
b) Lừa đảo trong thương mại điện tử,
thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc
giao dịch chứng khoán.
c) Thiết lập, cung
cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản; Truy cập bất hợp pháp vào tài
khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản.
d)
Tất cả các phương án trên.
Câu 4: Ví dụ A trộm cắp 01 thẻ ATM MB Bank của B (A,
B ở chung với nhau). Do biết được mật khẩu, lợi dụng sơ hở, A đã lấy thẻ ATM
của B, sau đó ra điểm giao dịch ATM để rút số tiền 5.000.000 đồng. A phạm tội
“Trộm cắp tài sản” hay tội “Sử dụng trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông,
phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”?
II. PHƯƠNG PHÁP: Đối thoại trực tiếp hoặc thông qua kiểm tra thu
hoạch do Ban tổ chức lớp học sắp xếp.
III. THỜI GIAN: 30 phút.
IV. ĐỊA ĐIỂM: Tại các cơ quan, đơn vị.
V. PHỤ TRÁCH: Giáo viên lớp học.
VI. TÀI LIỆU:
- Bộ luật Hình sự
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Luật An ninh
mạng 2018.
- Luật Công nghệ
thông tin 2006.
- Luật Viễn thông
2009.
- Nghị định số
40/2018/NĐ-CP ngày 12/3/2018 của Chính phủ về kinh doanh theo phương thức đa
cấp.
- Nghị định 25/2014/NĐ-CP ngày
07/4/2014 của Chính phủ quy định về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật
khác có sử dụng công nghệ cao.
- Nghị định
72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp và sử
dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.
- Thông tư số
24/2015/TT-BTTTT ngày 18/8/2015 quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên internet.
- Thông tư liên
tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012 hướng
dẫn áp dụng quy định của BLHS về tội
phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.
B. HOẠT ĐỘNG BỔ TRỢ: Không.
[1] (Luật An ninh mạng 2018):
Môi trường không gian mạng là môi trường nhân tạo, được
tạo ra từ sự kết nối của hạ tầng công nghệ thông tin, trong đó thông tin dữ
liệu được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi; là nơi
con người thông qua các công cụ kỹ thuật giao tiếp, tương tác với nhau không bị
giới hạn bởi không gian và thời gian.

0 Nhận xét