Quan hệ hụi, họ, biêu phường (sau đây gọi tắt là họ) được hiểu là một loại giao dịch dân sự về tài sản. Dưới hình thức góp vốn, lĩnh vốn theo phường, hội trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người về thời gian, số tiền hoặc tài sản khác (lúa, vật nuôi...), thể thức góp vốn, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên. Nguyên tắc chung của chơi họ là nhiều người (nhà con) cùng tham gia một dây họ bầu ra nhà cái (người thu tiền của các nhà con và chuyển cho người bốc (bát) họ. Hằng tháng, mỗi nhà con phải góp một số tiền nhất định cho nhà cái. Lần lượt theo thứ tự bốc thăm hoặc theo thoả thuận đến kì hạn bốc họ, một nhà con sẽ nhận về số tiền từ nhà cái, sổ tiền này do các nhà con khác góp họ. Theo thứ tự bốc họ, khi người cuối cùng bốc họ thì dây họ chấm dứt.

 Đây là được coi là tập quán của nhân dân ta từ xưa, nó thể hiện tinh thần tương trợ lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội. Ngày nay, dưới sự phát triển kinh tế- xã hội nhu cầu cho vay, đi vay bằng phương thức họ ngày càng đa dạng, phức tạp. Tại một số địa phương, việc chơi họ phát triển với quy mô lớn, có tính chất phức tạp và bị biến tướng thành các hoạt động vi phạm pháp luật như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cho vay lãi nặng. Bên cạnh đó, trải qua thời gian dài áp dụng Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi là Nghị định số 144/2006/NĐ-CP) đã bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc. Đồng thời, BLDS 2015 đã có quy định mới điều chỉnh quan hệ họ, trước tình hình đó Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định 19/2019/NĐ-CP) được ban hành điều chỉnh quan hệ hụi, họ biêu phường.

Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ra đời đã khắc phục những vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn thi hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP. Đồng thời, Nghị định đã cụ thể hóa những quy định mới của BLDS năm 2015 về chủ thể, giao dịch vay tài sản nói chung và quy định về họ tại Điều 471 BLDS nói riêng nhằm tạo sự đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật. Ngoài ra, Nghị định tạo khung pháp lý chặt chẽ, đúng nguyên tắc của pháp luật dân sự nhằm phát huy tính tích cực của họ trong việc thể hiện tính nhân văn, phù hợp với phong tục tập quán tốt đẹp, ngăn ngừa tiêu cực, lợi dụng đã phát sinh trong thời gian qua. Sau đây là nội dung cơ bản và một số điểm mới của Nghị định 19/2019/NĐ-CP:

I. BỐ CỤC, PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH

1. Bố cục

Nghị định gồm 28 điều, được chia thành 5 chương, cụ thể:

Chương I. Quy định chung (14 điều, từ Điều 1 đến Điều 14).

Chương II. Quyền và nghĩa vụ của thành viên, chủ họ (4 điều, từ Điều 15 đến Điều 18).

Chương III. Thứ tự lĩnh họ và lãi suất (4 điều, từ Điều 19 đến Điều 22).

Chương IV. Trách nhiệm pháp lý của chủ họ và các thành viên (3 điều, từ Điều 23 đến Điều 25).

Chương V. Điều khoản thi hành (3 điều, từ Điều 26 đến Điều 28).

2. Phạm vi điều chỉnh

Điều 1 Nghị định 19/2019/NĐ-CP quy định phạm vi điều chỉnh của Nghị định như sau: Nghị định quy định “về nguyên tắc tổ chức họ, hụi, biêu, phường; điều kiện làm thành viên, chủ họ; gia nhập, rút khỏi họ; văn bản thỏa thuận về họ; thứ tự lĩnh họ, lãi suất; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của thành viên, chủ họ”. Như vậy, Nghị định sẽ điều chỉnh quan hệ về họ ở góc độ là quan hệ dân sự, không quy định về các chế tài đối với các hành vi biến tướng trong quan hệ về họ như chế tài hành chính, hình sự, việc xử lý đối với các hành vi này thuộc quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, hình sự, theo đó, các điều khoản có liên quan của Nghị định cụ thể quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ họ, thành viên; trách nhiệm dân sự đối với việc vi phạm nghĩa vụ của chủ họ, thành viên và quy định mang tính nguyên tắc chung đối với việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính.

II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH

1. Chương I - Quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 13)

Chương I của Nghị định quy định các vấn đề chung gồm phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh, nguyên tắc tổ chức họ, các khái niệm cơ bản, các loại họ[1]; điều kiện tham gia họ của chủ họ và thành viên; hình thức và nội dung thỏa thuận về họ; việc gia nhập, rút khỏi, chấm dứt dây họ; sổ họ, giấy biên nhận; thông báo về việc tổ chức dây họ.

Một trong những nội dung quyết định sự hợp pháp của dây họ được quy định cụ thể trong Chương I là các nguyên tắc thành lập họ, cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc tổ chức họ phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của BLDS (khoản 1 Điều 3). Nguyên tắc này được quy định dựa trên bản chất quan hệ về họ là xuất phát từ quan hệ pháp luật dân sự, theo đó, việc tổ chức họ là nhiều giao dịch vay tài sản được xác lập, thực hiện trong khoảng thời gian nhất định; bởi vậy, trước hết quan hệ về họ phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015, như sau:

“1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”.

Thứ hai, việc tổ chức họ chỉ được thực hiện nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau giữa những người tham gia quan hệ về họ (khoản 2 Điều 3), quy định này đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 471 BLDS năm 2015 “Việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật”. Mặt khác, thể hiện thái độ, quan điểm của Nhà nước không thừa nhận việc tổ chức họ nhằm mục đích kinh doanh hay tổ chức họ có tính chất chuyên nghiệp, tìm kiếm lợi nhuận.

Thứ ba, không được tổ chức họ để cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác (khoản 3 Điều 3); quy định này là tiền đề quan trọng để hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo hướng bổ sung các hành vi sẽ bị xử phạt như huy động vốn trái pháp luật, không thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ về họ; đồng thời, việc lợi dụng quan hệ về họ làm phát sinh các biến tướng cũng sẽ chịu những chế tài nghiêm khắc của pháp luật hình sự

2. Chương II - Quyền và nghĩa vụ của thành viên, chủ họ (Điều 15 đến Điều 18)

Chương II Nghị định đã quy định các nội dung về quyền và nghĩa vụ của chủ họ, thành viên theo hướng tập trung thành một chương, sắp xếp vị trí điều khoản theo cách quyền trước, nghĩa vụ sau để đảm bảo phù hợp với yêu cầu kỹ thuật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Về nội dung, ngoài việc kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, Nghị định đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm đảm bảo sự minh bạch, rõ ràng về quyền, nghĩa vụ và tăng cường trách nhiệm, sự ràng buộc, tự giám sát lẫn nhau của các bên; tập trung vào quy định về nghĩa vụ của chủ họ trong việc làm đầu mối quản lý dây họ, chịu trách nhiệm đóng góp phần họ trong trường hợp có thành viên chưa hoặc không góp phần họ.



Về kỹ thuật, các điều khoản về quyền, nghĩa vụ của thành viên (Điều 15, 16), quyền của chủ họ (Điều 17) được tách thành 3 khoản tương ứng với các loại họ gồm họ có lãi, họ không có lãi và họ hưởng hoa hồng; riêng điều khoản về nghĩa vụ của chủ họ (Điều 18) được quy định chung cho các loại họ.

3. Chương III - Thứ tự lĩnh họ và lãi suất (Điều 19 đến Điều 22)

Mục 1 Chương III của Nghị định quy định về xác định thứ tự lĩnh họ về cơ bản được kế thừa từ các quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, bổ sung thêm thứ tự lĩnh họ có thể được xác định bằng hình thức biểu quyết, bình chọn để tạo thêm nhiều sự lựa chọn cho những người tham gia. Điều 19 Nghị định quy định thứ tự lĩnh họ trong trường hợp họ không có lãi, theo đó, trường hợp những người tham gia dây họ không có thỏa thuận thì thứ tự lĩnh họ được xác định bằng hình thức bốc thăm. Ngoài ra, các bên có thể xác định thứ tự lĩnh họ theo hình thức biểu quyết, bình chọn hoặc hình thức khác. Điều 20 Nghị định quy định về thứ tự lĩnh họ trong họ có lãi, theo đó, thành viên lĩnh họ trong từng kỳ mở họ là người đưa ra mức lãi cao nhất, trừ trường hợp có thoả thuận khác; trường hợp trong một kỳ mở họ mà có nhiều thành viên cùng trả một mức lãi và mức lãi đó là mức lãi cao nhất thì những người này bốc thăm để xác định thành viên lĩnh họ. Thành viên đã lĩnh họ không được đưa ra mức lãi trong các kỳ mở họ tiếp theo, tuy nhiên, trường hợp một thành viên góp nhiều phần họ trong mỗi kỳ mở họ thì thành viên này có quyền đưa ra mức lãi cho đến khi có số lần lĩnh họ tương ứng với số phần họ mà thành viên đó góp họ trong một kỳ mở họ.

Mục 2 Chương III của Nghị định (Điều 21 và Điều 22) quy định về giới hạn lãi suất trong họ có lãi; xác định người phải chịu trách nhiệm trả lãi, mức lãi phải gánh chịu trong trường hợp không góp, giao hoặc góp, giao phần họ không đầy đủ nhằm đảm bảo thực hiện đúng các quy định tại Điều 357, Điều 466, Điều 468 và khoản 3 Điều 471 của BLDS năm 2015.

4. Chương IV - Trách nhiệm pháp lý của chủ họ và các thành viên (Điều 23 đến Điều 25)

Chương IV Nghị định quy định về trách nhiệm dân sự của những người tham gia họ theo hướng quy định rõ về trách nhiệm pháp lý khi người tham gia họ vi phạm thỏa thuận. Cụ thể quy định về trách nhiệm của chủ họ do không giao hoặc giao không đầy đủ các phần họ cho thành viên được lĩnh họ (Điều 23) về trách nhiệm của thành viên không góp phần họ (Điều 24).

Ngoài ra, khoản 1 Điều 25 của Nghị định quy định chung về các phương thức giải quyết tranh chấp để các bên lựa chọn khi có tranh chấp phát sinh, theo đó, “trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ thì tranh chấp đó được giải quyết bằng thương lượng, hoà giải hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật”. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 25 Nghị định quy định chủ họ, thành viên, cá nhân, tổ chức liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác khi tham gia quan hệ về họ. Việc ghi nhận các loại trách nhiệm pháp lý có ý nghĩa giúp những cá nhân tham gia quan hệ về họ lựa chọn ứng xử phù hợp, răn đe hành vi vi phạm pháp luật.

5. Chương V - Điều khoản thi hành (Điều 26 đến Điều 28)

Chương V Nghị định về điều khoản thi hành, theo đó, điều khoản chuyển tiếp của Nghị định là điều khoản mới được bổ sung nhằm hướng dẫn việc áp dụng pháp luật đối với các quan hệ phát sinh trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực.

Nghị định dành một điều khoản quy định về trách nhiệm thi hành của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, UBND các cấp và trách nhiệm chung của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp và cá nhân, tổ chức có liên quan.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã có trách nhiệm tổng hợp tình hình, diễn biến quan hệ về họ ở địa phương khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tuyên truyền, phổ biến Nghị định này và quy định pháp luật có liên quan.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận, thống kê thông tin về họ mà chủ họ cư trú tại địa phương đối với các dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100 triệu đồng trở lên hoặc chủ họ tổ chức từ hai dây họ trở lên. Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kịp thời phản ánh dấu hiệu vi phạm pháp luật về họ với cơ quan công an có thẩm quyền. Trong  các trường hợp nêu trên, trên cơ sở thông báo bằng văn bản của chủ họ[2] các thông tin về dây họ, UBND cấp xã thống kê các nội dung sau: (1) Họ, tên, số chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân hoặc số hộ chiếu, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của chủ họ; (2) Thời gian bắt đầu và kết thúc dây họ; (3) Tổng giá trị các phần họ tại kỳ mở họ; (4) Tổng số thành viên. Trường hợp chủ họ hoặc các thành viên thông báo về sự thay đổi thông tin về dây họ thì UBND cấp xã sửa đổi thông tin theo thông báo đó.

III. MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ ĐỊNH

1. Bổ sung quy định về điều kiện làm thành viên

Thỏa thuận về họ bản chất là giao dịch dân sự nên chủ thể tham gia vào giao dịch này phải tuân thủ các quy định của Bộ luật dân sự. Vì vậy, Nghị định 19/2019/NĐ-CP quy định về họ hụi biêu phường đã bổ sung quy định về điều kiện làm thành viên và chủ họ tại Điều 5 và Điều 6 Nghị định 19/2019/NĐ-CP như sau:

Thành viên tham gia họ cần đáp ứng quy định “Là người từ đủ mười tám tuổi trở lên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định tại Bộ luật dân sự”, “người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi nếu có tài sản riêng có thể là thành viên của dây họ, trường hợp sử dụng tài sản riêng là bất động sản, động sản phải đăng ký để tham gia dây họ thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý” (khoản 1 Điều 5). Ngoài ra, thành viên còn phải đáp ứng “điều kiện khác theo thỏa thuận của những người tham gia dây họ” (khoản 2 Điều 5). Quy định về điều kiện của thành viên tham gia dây họ nhằm bảo vệ quyền lợi cho người chưa thành niên, người có hạn chế về thể chất, tinh thần trong quan hệ pháp luật; bên cạnh đó, quy định trường hợp 15-18 tuổi chơi họ liên quan đến bất động sản thì phải có người đại diện đồng ý nhằm đảm bảo tuân thủ quy định tại khoản 4 Điều 21 BLDS năm 2015.

Về chủ họ, Nghị định kế thừa quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về điều kiện năng lực của cá nhân làm chủ họ, đồng thời bổ sung quy định đối với dây họ do nhiều người cùng tổ chức thì “chủ họ là người được hơn một nửa tổng số thành viên bầu, trừ trường hợp các thành viên có thỏa thuận khác” (khoản 2 Điều 6) nhằm bao quát hơn các dạng dây họ được tổ chức trên thực tế.

2. Bỏ quy định về họ đầu thảo, theo quy định về họ hưởng hoa hồng.

Căn cứ tình hình thực tiễn hiện nay và kết quả áp dụng các quy định trên thực tiễn Nghị định 19/2019  đã bỏ nội dung về họ đầu thảo và bổ sung quy định về họ hưởng hoa hồng. Cụ thể, theo Nghị định 144/2006 thì họ bao gồm họ không có lãi và họ có lãi (bao gồm họ đầu thảo và họ hưởng hoa hồng) nhưng theo Nghị định 19/2019 thì họ bao gồm họ không có lãi, họ có lãi và họ hưởng hoa hồng (bao gồm họ có lãi và họ không có lãi).Theo đó là các thành viên được lĩnh họ phải trả một khoản hoa hồng cho chủ họ theo mức do những người tham gia dây họ thỏa thuận.

3. Bỏ hình thức thỏa thuận dây họ bằng lời nói, quy định rõ hơn về nội dung văn bản thỏa thuận về dây họ.

Nghị định 19/2019/NĐ-CP quy định về họ hụi biêu phường đã quy định cụ thể là thỏa thuận dây họ phải được thể hiện bằng văn bản. Điều 8 của Nghị định quy định cụ thể về các nội dung cần phải có của văn bản thỏa thuận về dây họ và  hướng dẫn cho các bên tham gia quan hệ về họ thỏa thuận các nội dung cụ thể, chi tiết, chặt chẽ để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Theo đó, nội dung văn bản thỏa thuận về dây hụi cần đảm bảo các nội dung sau: Họ tên, số chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân hoặc số hộ chiếu; ngày, tháng, năm sinh; nơi cư trú của chủ họ (nơi chủ họ thường xuyên sinh sống hoặc nơi đang sinh sống nếu không xác định được nơi thường xuyên sinh sống); Số lượng thành viên, họ, tên, số chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân hoặc số hộ chiếu, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của từng thành viên; Phần họ; Thời gian diễn ra dây họ, kỳ mở họ; Thể thức góp họ, lĩnh họ. Ngoài ra, văn bản thỏa thuận về dây họ có thể có những nội dung sau: Mức hưởng hoa hồng của chủ họ trong họ hưởng hoa hồng; Lãi suất trong họ có lãi; Trách nhiệm ký quỹ hoặc biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác của chủ họ; Việc chuyển giao phần họ; Gia nhập, rút khỏi, chấm dứt dây họ; Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ; Nội dung khác theo thỏa thuận.

4. Bổ sung quy định về gia nhập họ, rút khỏi họ, chấm dứt họ; giấy biên nhận.

Nghị định số 144/2006 không có quy định về việc gia nhập họ, rút khỏi họ, chấm dứt họ. Tuy nhiên, thực hiện cho thấy trong quá trình hoạt động của dây họ có phát sinh nhiều trường hợp người tham gia rút họ hoặc có người mới tham gia đặc biệt khi số lượng người tham gia họ lớn thì diễn biến ngày càng phức tạp. Do đó, để đảm bảo tối đa quyền lợi của các thành viên và tránh phát sinh các tranh chấp xảy ra, Nghị định số 19/2019 đã bổ sung quy định về gia nhập họ, rút khỏi họ, chấm dứt họ, giấy biên nhận nhằm tạo hành lang pháp lý điều chỉnh những trường hợp có sự thay đổi về thành viên trong dây họ và trường hợp dừng chơi họ, đảm bảo bao quát được các vấn đề phát sinh trong quá trình tổ chức họ, tạo cơ sở pháp lý khi giải quyết các tranh chấp về họ.

Về gia nhập dây họ, Nghị định số 19/2019 quy định như sau: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, một người có thể trở thành thành viên mới của dây họ khi: Có sự đồng ý của chủ họ và tất cả các thành viên; Góp đầy đủ các phần họ theo thỏa thuận tính đến thời điểm tham gia.

Về rút khỏi dây họ, Nghị định phân tách trường hợp thành viên đã lĩnh họ rút khỏi dây họ và trường hợp thành viên đã góp họ mà chưa lĩnh họ và quy định cụ thể như sau:

- Đối với thành viên đã lĩnh họ, Nghị định quy định họ có thể rút khỏi dây họ nhưng phải góp các phần họ chưa góp và giao cho chủ họ hoặc thành viên giữ sổ họ trong trường hợp không có chủ họ (khoản 1 Điều 10), theo đó, chủ họ hoặc thành viên giữ sổ họ sẽ có trách nhiệm tiếp tục đóng các phần họ cho thành viên đã rút khỏi dây họ tại mỗi kỳ mở họ;

- Đối với thành viên đã góp họ nhưng chưa được lĩnh họ thì những người tham gia có thể thỏa thuận để thành viên đó nhận lại các phần họ của mình, trường hợp không có thỏa thuận thì thành viên rút khỏi dây họ cần đợi đến khi kết thúc dây họ để được nhận lại các phần họ đã góp; nếu có lý do chính đáng thì được nhận lại phần họ đã góp tại thời điểm rút khỏi dây họ; thành viên rút khỏi dây họ phải hoàn trả một phần tiền lãi đã nhận (nếu có) và thực hiện nghĩa vụ khác theo thỏa thuận; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định tại Bộ luật dân sự (khoản 2 Điều 10).

– Trường hợp người tham gia dây họ chết thì quyền, nghĩa vụ của người đó đã được xác lập trong quan hệ về họ được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế. Việc tham gia dây họ của người thừa kế được thực hiện theo thỏa thuận của người thừa kế và những người tham gia dây họ.

Về chấm dứt dây họ, Nghị định số 19/2019 quy định như sau: Dây họ chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Theo thoả thuận của những người tham gia dây họ; Mục đích tham gia dây họ của các thành viên đã đạt được; Trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Trường hợp dây họ chấm dứt, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia dây họ được thực hiện theo thỏa thuận về dây họ và quy định tại Bộ luật dân sự.Về gia nhập dây họ, rút khỏi dây họ và chấm dứt dây họ,

Về sổ họ, giấy biên nhận: Trên thực tế một số họ có số lượng người tham gia dây họ quá lớn nên có thành viên còn không nắm bắt được đầy đủ thông tin về thành viên tham gia dẫn đến trường hợp chủ họ thông không trung thực về số thành viên tham gia dây họ hay trường hợp không có giấy tờ gì ghi số tiền góp họ, lãnh họ hoặc ghi không rõ ràng dẫn đến tranh chấp liên quan đến quyền lợi. Vì vậy, nhằm rõ ràng, minh bạch và đảm bảo quyền lợi của các thành viên tham gia dây họ, Nghị định số 19/2019 đã hoàn thiện các quy định mang tính hướng dẫn để các bên đưa vào các nội dung tại sổ họ đảm bảo ghi nhận đúng các giao dịch đã diễn ra trong quan hệ về họ; việc lập và giữ sổ họ do các thành viên thỏa thuận trường hợp không có thỏa thuận thì chủ họ lập và giữ. Đặc biệt, tại Điều 13  Nghị định bổ sung quy định nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, tự bảo vệ của các bên trong quan hệ về họ, theo đó “khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan thì thành viên có quyền yêu cầu chủ họ hoặc người lập và giữ sổ họ cấp giấy biên nhận về việc đó”.

5. Bổ sung nhiều quy định về quyền, nghĩa vụ của chủ họ và thành viên

Nghị định số 19/2019 đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm đảm bảo sự minh bạch, rõ ràng về quyền, nghĩa vụ và tăng cường trách nhiệm, sự ràng buộc của các bên. Cụ thể như sau:

Về quyền của thành viên, đối với thành viên trong họ không có lãi có các quyền như góp một hoặc nhiều phần họ trong một kỳ mở họ; lĩnh họ; chuyển giao một phần hoặc toàn bộ phần họ cho người khác theo quy định tại BLDS; yêu cầu chủ họ trả phần họ của thành viên không góp phần họ đúng hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; yêu cầu chủ họ thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ họ và các quyền khác có liên quan. Đặc biệt, Nghị định quy định thành viên có quyền yêu cầu chủ họ hoặc người giữ sổ họ cho xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ nhằm tạo điều kiện cho thành viên lưu giữ các chứng cứ, tài liệu trong quá trình diễn ra dây họ.

Thành viên trong họ có lãi ngoài các quyền như của thành viên trong dây họ không có lãi còn có quyền đưa ra mức lãi trong mỗi kỳ mở họ; được lĩnh họ trước các thành viên khác nếu đưa ra mức lãi cao nhất tại kỳ mở họ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; hưởng lãi từ thành viên lĩnh họ (khoản 2 Điều 15). Đối với thành viên trong họ hưởng hoa hồng, ngoài các quyền tương ứng với quyền của thành viên trong họ có lãi hoặc họ không lãi còn có quyền thỏa thuận về mức hưởng hoa hồng của chủ họ (khoản 3 Điều 15).

Về nghĩa vụ của thành viên, đối thành viên trong họ không có lãi có nghĩa vụ góp phần họ theo thoả thuận; thông báo về nơi cư trú mới trong trường hợp có thay đổi cho những người tham gia dây họ; tiếp tục góp các phần họ để các thành viên khác được lĩnh cho đến khi thành viên cuối cùng lĩnh họ trong trường hợp đã lĩnh họ trước thành viên khác và các nghĩa vụ khác có liên quan.

Thành viên trong họ có lãi ngoài các nghĩa vụ như của thành viên trong dây họ không có lãi còn có nghĩa vụ trả lãi cho các thành viên chưa lĩnh họ khi được lĩnh họ. Đối với thành viên trong họ hưởng hoa hồng, ngoài các nghĩa vụ tương ứng với quyền của thành viên trong họ có lãi hoặc họ không lãi còn có nghĩa vụ trả khoản hoa hồng cho chủ họ khi lĩnh họ theo thỏa thuận.

Về quyền của chủ họ, Điều 17 quy định chủ họ trong họ không có lãi có quyền thu phần họ của các thành viên; yêu cầu thành viên không góp phần họ của mình phải trả phần họ trong trường hợp chủ họ đã góp thay cho thành viên đó và các quyền khác có liên quan.

Trong họ có lãi, chủ họ có các quyền như của chủ họ trong dây họ không có lãi và quyền lĩnh các phần họ trong kỳ mở họ đầu tiên và không phải trả lãi cho các thành viên khác trong trường hợp chủ họ đồng thời là thành viên, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Đối với chủ họ trong họ hưởng hoa hồng, ngoài các quyền tương ứng với quyền của chủ họ trong họ có lãi hoặc họ không lãi còn có quyền được hưởng hoa hồng từ thành viên lĩnh họ.

Về nghĩa vụ của chủ họ, Điều 18 Nghị định quy định các nghĩa vụ mang tính đặc trưng của tập quán về họ và kế thừa quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP như nghĩa vụ lập và giữ sổ họ và các giấy tờ liên quan đến họ; thu phần họ của các thành viên; giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ; nộp thay phần họ của thành viên trong trường hợp có thoả thuận nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ; để các thành viên xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ khi có yêu cầu;…

Ngoài ra, Nghị định còn bổ sung một số quy định quan trọng về nghĩa vụ của chủ họ như thông báo cho các thành viên về nơi cư trú mới trong trường hợp có sự thay đổi; thông báo đầy đủ về số lượng dây họ, phần họ, kỳ mở họ, số lượng thành viên của từng dây họ mà mình đang làm chủ họ cho người muốn gia nhập dây họ; gửi thông báo về dây họ trong trường hợp dây họ thuộc diện phải thông báo cho chính quyền cơ sở.

6. Bổ sung quy định mới về giới hạn lãi suất lĩnh họ trong họ có lãi, lãi suất trong trường hợp chậm đóng góp phần họ trong quan hệ họ có lãi và họ không có lãi.

Nếu như Nghị định 144/2006 chỉ quy định lãi suất họ có lãi thực hiện theo Điều 476 BLDS năm 2005. Tức là, lãi suất họ có lãi do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước  công bố thì Nghị định số 19/2019 là bổ sung các quy định giới hạn lãi suất lĩnh họ trong họ có lãi, lãi suất trong trường hợp chậm đóng góp phần họ trong quan hệ họ có lãi và họ không có lãi. Các quy định này nhằm cụ thể hóa quy định tại Điều 357, Điều 466, 468 BLDS năm 2015 và phù hợp với đặc thù của quan hệ về họ. Cụ thể như sau:

Về lãi suất trong họ có lãi: Lãi suất trong họ có lãi do các thành viên của dây họ thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ nhưng không vượt quá 20%/năm của tổng giá trị các phần họ phải góp trừ đi giá trị các phần họ đã góp trên thời gian còn lại của dây họ. Trường hợp mức lãi suất giới hạn nói trên được điều chỉnh bởi cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự thì áp dụng mức lãi suất giới hạn được điều chỉnh đó. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ vượt quá lãi suất giới hạn 20%/năm thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

Về lãi suất trong trường hợp chậm góp, chậm giao phần họ: Trường hợp đến kỳ mở họ mà chủ họ không giao hoặc giao không đầy đủ các phần họ cho thành viên được lĩnh họ, thành viên chưa lĩnh họ không góp phần họ hoặc góp phần họ không đầy đủ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm góp hoặc chậm giao phần họ được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn 20%/năm của số tiền chậm trả trên thời gian chậm trả, nếu không có thỏa thuận thì lãi suất được xác định bằng 10%/năm của số tiền chậm trả trên thời gian chậm trả. Trường hợp đến kỳ mở họ mà thành viên đã lĩnh họ không góp phần họ hoặc góp phần họ không đầy đủ thì phải trả lãi như sau:

– Trường hợp họ không có lãi, lãi suất được xác định theo thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn 20%/năm của số tiền chậm góp họ trên thời gian chậm góp, nếu không có thỏa thuận thì lãi suất được xác định bằng 10%/năm của số tiền chậm góp trên thời gian chậm góp.

– Trường hợp họ có lãi, lãi suất được xác định theo mức quy định tại khoản 5 Điều 466 của Bộ luật dân sự đối với họ có lãi.

7. Bổ sung quy định về trách nhiệm pháp lý của chủ họ và thành viên

Nghị định số 19/2019  đã bổ sung quy định trách nhiệm pháp lý đối với chủ họ và thành viên khi có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng bao gồm trách nhiệm về dân sự, hành chính, hình sự. Cụ thể như sau:

Trường hợp đến kỳ mở họ mà chủ họ không giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ thì chủ họ phải chịu phạt vi phạm trong trường hợp những người tham gia dây họ có thỏa thuận phạt vi phạm theo quy định tại Điều 418 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ hoặc góp phần họ không đầy đủ thì thành viên đó phải chịu phạt vi phạm trong trường hợp những người tham gia dây họ có thỏa thuận phạt vi phạm theo quy định tại Điều 418 của Bộ luật dân sự.

Chủ họ, thành viên, cá nhân, tổ chức liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác khi tham gia quan hệ về họ.

8. Bổ sung quy định về thông báo về việc tổ chức dây họ

Nhằm góp phần khắc phục những vướng mắc, bất cập trong quá trình thi hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về việc chính quyền các cấp chưa nắm bắt tình hình, diễn biến và giám sát quan hệ về họ đồng thời hỗ trợ chính quyền theo dõi tình hình, có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế được tình trạng vỡ họ gây mất trật tự ở địa phương. Điều 14 Nghị định 19/2019/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ của chủ họ trong việc thông báo về việc tổ chức dây họ cho UBND cấp xã nơi chủ họ cư trú. Cùng với đó, Nghị định quy định quyền thông báo của thành viên trong trường hợp chủ họ không thực hiện nghĩa vụ trên (điểm i khoản 1 Điều 15) và trách nhiệm của UBND cấp xã trong việc tiếp nhận, thống kê thông tin về họ và kịp thời phản ánh dấu hiệu vi phạm pháp luật về họ với cơ quan công an có thẩm quyền (khoản 4 Điều 28).

 

 



[1] Theo đó họ gồm có họ có lãi và họ không có lãi, trong mỗi loại họ này còn có thể có: họ không có lãi mà chủ họ không hưởng hoa hồng, họ không có lãi và chủ họ hưởng hoa hồng; họ có lãi mà chủ họ không hưởng hoa hồng, họ có lãi và chủ họ hưởng hoa hồng

[2] Trong trường hợp chủ họ không thông báo thì các thành viên dây họ có quyền thông báo cho UNND cấp xã về dây họ.