I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT PHÒNG,
CHỐNG RỬA TIỀN (SỬA ĐỔI)
Thực hiện các giải pháp được đưa ra tại Chỉ thị số
05-CT/TW ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng là nghiên cứu hoàn
thiện pháp luật về phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng sát với thực
tiễn của đất nước và phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Nhóm tội phạm về tham nhũng là nhóm tội phạm nguồn của tội rửa tiền được đánh
giá có nguy cơ rửa tiền từ mức “trung bình cao” đến mức “cao”. Do vậy, hiệu quả
công tác điều tra, truy tố và xét xử tội phạm về rửa tiền sẽ góp phần đáng kể
tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Việc hoàn thiện
quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền là một trong những yếu tố then chốt
để nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố và xét xử tội phạm về rửa tiền.
II. MỘT SỐ ĐIỂM MỚI VÀ SỬA ĐỔI BỔ
SUNG
Luật số 14/2022/QH15 về Phòng, chống
rửa tiền năm 2022 được kết cấu gồm 4 Chương 66 Điều, giảm 1 Chương và tăng 16
Điều so với Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2021, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/3/2023.
1. Làm rõ hơn quy định đối tượng báo cáo khi thiết lập quan hệ với ngân
hàng đối tác
Về minh bạch thông tin của pháp nhân,
thỏa thuận pháp lý, tổ chức phi lợi nhuận, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022
kế thừa và quy định cụ thể hơn một số yêu cầu thu thập, cập nhật, lưu trữ,
thông tin của đối tượng báo cáo, cá nhân, tổ chức có liên quan; quy định trách
nhiệm cung cấp các thông tin này cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Về quan hệ ngân hàng đại lý, Luật
Phòng, chống rửa tiền năm 2022 sửa đổi, làm rõ hơn quy định đối tượng báo cáo
khi thiết lập quan hệ với ngân hàng đối tác để cung cấp dịch vụ ngân hàng,
thanh toán và các dịch vụ khác cho ngân hàng đối tác phải thu nhập thông tin về
ngân hàng đối tác, đánh giá việc thực hiện các biện pháp về phòng, chống rửa
tiền, hiểu rõ về trách nhiệm phòng, chống rửa tiền của ngân hàng đối tác trong
quan hệ đại lý.
Về giám sát một số giao dịch đặc biệt, kế thừa quy định tại
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012 về các giao dịch đặc biệt mà đối tượng báo
cáo phải giám sát, đồng thời, bổ sung quy định đối tượng báo cáo phải áp dụng
các biện pháp tăng cường; kiểm tra thông tin và mục đích của giao dịch, trường
hợp có nghi ngờ, phải xem xét báo cáo giao dịch đáng ngờ và có thể từ chối giao
dịch đó.
2. Sửa đổi một số dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm
nhân thọ
Về trách nhiệm xây dựng quy định nội
bộ và báo cáo, cung cấp, lưu trữ thông tin, hồ sơ về phòng, chống rửa tiền,
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 làm rõ hơn yêu cầu về quy định nội bộ của
các đối tượng báo cáo; giảm bớt yêu cầu về quy định nội bộ cho đối tượng báo
cáo là cá nhân, doanh nghiệp siêu nhỏ.
Luật sửa đổi một số dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực chứng
khoán, bảo hiểm nhân thọ; bổ sung dấu hiệu đáng ngờ đối với hoạt động trung
gian thanh toán; sửa đổi quy định về thời hạn báo cáo, khắc phục những vướng
mắc trong quá trình thực hiện.
Quy định cụ thể về lưu trữ, bảo mật thông tin, hồ sơ, tài
liệu, báo cáo, phù hợp với pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt đông của đối
tượng báo cáo.
3. Quy định cụ thể hơn về việc trao đổi, cung cấp, chuyển giao thông tin
phòng, chống rửa tiền
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022
sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể hơn về việc trao đổi, cung cấp, chuyển giao
thông tin phòng, chống rửa tiền với cơ quan có thẩm quyền trong nước, cơ quan
có thẩm quyền nước ngoài.
Về áp dụng các biện pháp tạm thời, Luật quy định rõ hơn các
trường hợp thực hiện trì hoãn giao dịch; luật hóa quy định về việc miễn trách
nhiệm của đối tượng báo cáo tại Nghị định 116/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ
sung), bổ sung quy định về thời điểm thực hiện biện pháp trì hoãn giao dịch đảm
bảo tính kịp thời, phù hợp Khuyến nghị của tổ chức quốc tế.
Luật cũng bổ sung trách nhiệm của bộ, ngành trong việc thực hiện đánh
giá, cập nhật rủi ro quốc gia về rửa tiền; sửa đổi trách nhiệm cụ thể một số
bộ, ngành, bảo đảm phù hợp với chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành và
tính thống nhất với quy định pháp luật liên quan./.
III. BỐ CỤC, NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
Luật Phòng, chống rửa tiền
năm 2022 được bố cục gồm 4 Chương, 66 Điều, cụ thể:
- Chương I: Những quy định chung.
- Chương II: Biện pháp phòng, chống rửa tiền.
- Chương III: Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
trong phòng, chống rửa tiền.
- Chương IV: Điều khoản thi hành.
Một số nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 như sau:
1. Phạm vi điều
chỉnh (Điều 1)
Về cơ bản, Luật Phòng, chống rửa
tiền năm 2022 kế thừa quy định tại Luật Phòng, chống
rửa tiền/ năm 2012, theo đó phạm vi điều chỉnh của Luật quy định về các biện
pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi rửa
tiền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống rửa tiền;
hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền. Bên cạnh đó, Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2022 cũng quy định việc phòng, chống hành vi
rửa tiền của các tổ chức, cá nhân có mục đích tài trợ khủng bố, tài trợ phổ
biến vũ khí hủy diệt hàng loạt được thực hiện theo quy định của Luật này, quy
định của pháp luật hình sự và pháp luật về phòng, chống khủng bố, phổ biến vũ
khí hủy diệt hàng loạt.
2. Đối tượng báo
cáo về phòng, chống rửa tiền (Điều 4)
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 kế thừa
quy định về đối tượng báo cáo phòng, chống rửa tiền tại
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012, bao
gồm tổ chức tài chính và tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành nghề phi tài chính.
Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 sửa đổi, bổ sung một số nội dung về đối tượng báo cáo, cụ thể:
- Sửa đổi, bổ sung tên gọi của một số hoạt động của đối
tượng báo cáo, ví dụ: sửa đổi tên gọi hoạt động cung cấp dịch vụ ủy thác đầu tư
thành hoạt động cung cấp dịch vụ thỏa thuận pháp lý; sửa đổi, bổ sung tên gọi
các hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản,
kinh doanh trò chơi có thưởng... Việc sửa đổi, bổ sung tên gọi các hoạt động để
phù hợp với nội hàm khái niệm của FATF và phù hợp với quy định pháp luật hiện
hành.
- Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 đã luật
hóa quy định tại Nghị định 87/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 116/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013, theo đó, bổ sung đối
tượng báo cáo là các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.
- Đồng
thời, để đảm bảo bao quát được các hoạt động phát sinh trong tương lai, Luật
quy định Chính phủ quy định cụ thể các hoạt động mới phát sinh có rủi ro về rửa
tiền của đối tượng báo cáo nhưng chưa được quy định tại Luật sau khi được sự
đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Về hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền (Điều 6)
Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung hợp tác quốc tế về phòng,
chống rửa tiền, các trường hợp từ chối yêu cầu trao đổi, cung cấp thông
tin, quy trình, thủ tục, phương thức hợp tác quốc tế về phòng,
chống rửa tiền và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong hợp tác
quốc tế về phòng, chống rửa tiền. Bên cạnh đó,
để đáp ứng thực tiễn công tác trao đổi, cung cấp thông tin về phòng,
chống rửa tiền, Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 cũng bổ sung nguyên tắc: trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có
điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về phòng, chống
rửa tiền, việc trao đổi, chuyển giao thông tin trong hợp tác quốc
tế về phòng, chống rửa tiền được thực hiện
trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp
với pháp luật và tập quán quốc tế.
4. Quy định về đánh giá rủi ro quốc gia, đối tượng báo cáo về rửa tiền (Điều 7)
Để đáp ứng khuyến nghị của FATF,
đánh giá của APG tại Báo cáo đánh giá đa phương và phù hợp với thực tiễn triển
khai hoạt động đánh giá rủi ro quốc gia, đối tượng báo cáo về rửa tiền, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 bổ sung các quy định về đánh giá rủi ro quốc gia, đối
tượng báo cáo về rửa tiền, cụ thể:
a) Về quy định đánh giá, cập nhật rủi ro quốc gia về rửa
tiền
Tại Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 bổ sung quy định về nghĩa vụ thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro quốc gia
về rửa tiền, cụ thể như sau:
Định kỳ 05 năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối
hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa
tiền và trình Chính phủ phê duyệt kết quả đánh giá, kế hoạch thực hiện sau đánh
giá. Việc đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền được thực hiện đối với cả hoạt
động mới phát sinh có thể có rủi ro về rửa tiền.
Các bộ, ngành liên quan có trách nhiệm thực hiện: (i) Phổ
biến kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền trong nội bộ Bộ, ngành mình
và đến các đối tượng báo cáo thuộc phạm vi quản lý, đồng thời có biện pháp nhằm
giảm thiểu rủi ro đã xác định; (ii) Cập nhật rủi ro về rửa tiền dựa trên việc
triển khai kế hoạch thực hiện sau đánh giá hoặc khi có rủi ro phát sinh thuộc
phạm vi quản lý của Bộ, ngành mình gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trên cơ sở
kết quả cập nhật rủi ro của các Bộ, ngành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng hợp
trình Chính phủ phê duyệt kết quả cập nhật rủi ro quốc gia về rửa tiền, kế
hoạch thực hiện sau cập nhật.
Do các tiêu chí, phương pháp đánh giá rủi ro quốc gia về
rửa tiền mang tính kỹ thuật và có thể thay đổi trong từng thời kỳ, Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2022 giao Chính phủ quy định về nguyên tắc, tiêu chí,
phương pháp đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền.
b) Về quy định đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền của
đối tượng báo cáo
Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 đã Luật hóa các quy định về trách nhiệm đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa
tiền của đối tượng báo cáo; báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phổ biến
trong toàn hệ thống của đối tượng báo cáo kết quả đánh giá, cập nhật rủi ro về
rửa tiền. Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 giao Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tiêu chí, phương pháp đánh giá rủi ro về rửa
tiền của đối tượng báo cáo.
Luật cũng quy định căn cứ kết quả đánh giá, cập nhật rủi
ro về rửa tiền, đối tượng báo cáo phải xây dựng quy trình quản lý rủi ro về rửa
tiền, trong đó có nội dung về việc phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro
thấp, trung bình, cao và các biện pháp áp dụng tương ứng với các mức độ rủi ro
về rửa tiền; cụ thể: (i) Đối với khách hàng có mức độ rủi ro về rửa tiền thấp,
đối tượng báo cáo có thể thu thập, cập nhật, xác minh thông tin nhận biết khách
hàng ở mức độ giảm nhẹ sau lần đầu thiết lập quan hệ với khách hàng; (ii) Đối
với khách hàng có mức độ rủi ro về rửa tiền trung bình, đối tượng báo cáo phải
nhận biết khách hàng theo quy định tại Điều 9 Luật Phòng, chống
rửa tiền; (iii) Đối với khách hàng có mức độ rủi ro về rửa tiền
cao, đối tượng báo cáo đồng thời phải thực hiện nhận biết khách hàng theo quy
định tại Điều 9 Luật Phòng, chống rửa tiền và áp dụng biện pháp tăng cường bao
gồm thu thập, cập nhật, xác minh thông tin nhận biết khách hàng tăng cường và
giám sát chặt chẽ các giao dịch của khách hàng.
5. Quy định về
nhận biết khách hàng và cập nhật, xác minh thông tin nhận biết khách hàng ( Điều 9 -> Điều 23)
- Về nhận biết khách hàng: Luật Phòng, chống
rửa tiền năm 2022 sửa đổi, bổ sung quy định về thông tin nhận
biết khách hàng để phù hợp với pháp luật hiện hành, khuyến nghị của FATF, đánh
giá của APG như đối với khách hàng cá nhân bổ sung thông tin về số Căn cước
công dân hoặc số định danh cá nhân, quy định rõ thông tin yêu cầu thu thập đối
với khách hàng cá nhân có một quốc tịch là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam
hoặc người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam, là người có từ hai quốc tịch
trở lên, người không quốc tịch…; bổ sung quy định đối tượng báo cáo có thể khai
thác thông tin trong các cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định pháp luật, thông
qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đối chiếu, xác minh thông tin do khách
hàng cung cấp.
Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống
rửa tiền năm 2022 kế thừa quy định về việc đối tượng báo cáo có
thể thuê tổ chức khác xác minh thông tin khách hàng. Đồng thời, để đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2022 bổ sung quy định: đối tượng báo cáo phải bảo
đảm tổ chức được thuê xác minh phải bảo mật thông tin khách hàng theo quy định
của pháp luật và đối tượng báo cáo phải chịu trách nhiệm về kết quả xác minh
thông tin nhận biết khách hàng của tổ chức được thuê. Việc thuê tổ chức khác để
xác minh thông tin nhận biết khách hàng thực hiện theo thỏa thuận của các bên
và quy định của pháp luật có liên quan.
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022
cũng sửa đổi, bổ sung quy định về nhận biết, xác minh thông tin nhận biết khách
hàng thông qua bên thứ ba, là hoạt động được sửa đổi tên gọi từ hoạt động kinh
doanh qua giới thiệu quy định tại Luật Phòng, chống
rửa tiền 2012, trong đó, sửa đổi, bổ sung quy định về các yêu cầu
đối với bên thứ ba, quy định rõ việc nhận biết, xác minh thông tin khách hàng
thông qua bên thứ ba không loại trừ trách nhiệm của đối tượng báo cáo trong
việc nhận biết, xác minh thông tin khách hàng.
- Về trách nhiệm của đối tượng báo cáo liên quan đến cá
nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị (PEP): Luật Phòng, chống
rửa tiền năm 2022 bổ sung quy định về đối tượng PEP của tổ chức
quốc tế, quy định rõ hơn trách nhiệm của đối tượng báo cáo phải thực hiện các
biện pháp thích hợp để xác minh nguồn gốc tài sản của khách hàng và chủ sở hữu
hưởng lợi và thực hiện giám sát mối quan hệ kinh doanh trong suốt quá trình
giao dịch với khách hàng này.
- Về quan hệ ngân hàng đại lý (được hiểu là quan hệ được hình thành từ việc một ngân hàng tại
một quốc gia, vùng lãnh thổ cung cấp dịch vụ ngân hàng, thanh toán và các dịch
vụ khác cho một ngân hàng đối tác tại một quốc gia, vùng lãnh thổ khác):
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 bổ
sung quy định đối tượng báo cáo khi thiết lập quan hệ với ngân hàng đối tác tại
một quốc gia, vùng lãnh thổ khác để cung cấp dịch vụ ngân hàng, thanh toán và
các dịch vụ khác cho ngân hàng đối tác phải áp dụng các biện pháp nhằm thu thập
thông tin, đánh giá việc thực hiện các biện pháp về phòng, chống
rửa tiền, hiểu biết về các trách nhiệm phòng, chống
rửa tiền của ngân hàng đối tác trong quan hệ đại lý; trong trường
hợp khách hàng của ngân hàng đối tác có thể thanh toán thông qua tài khoản của
ngân hàng đối tác mở tại đối tượng báo cáo, đối tượng báo cáo phải đảm bảo rằng
tài khoản của ngân hàng đối tác mở tại đối tượng báo cáo không được phép sử
dụng bởi các ngân hàng vỏ bọc (được hiểu là ngân hàng không có sự hiện diện
thực tế tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ mà tại đó ngân hàng phải được thành lập
và cấp phép, đồng thời không có sự liên kết hoặc kiểm soát của bất kỳ định chế
tài chính nào đã được quản lý và giám sát).
6. Về trách nhiệm của đối tượng báo cáo khi cung cấp các sản phẩm, dịch vụ
mới; sản phẩm, dịch vụ hiện có áp dụng công nghệ đổi mới (Điều 19)
Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 sửa đổi và làm rõ hơn về trách nhiệm của đối tượng báo cáo liên quan đến
cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mới; sản phẩm, dịch vụ hiện có áp dụng công nghệ
đổi mới, cụ thể: quy định đối tượng báo cáo phải ban hành chính sách, quy trình
để nhận diện và đánh giá mức độ rủi ro về rửa tiền đối với các sản phẩm, dịch
vụ mới và sản phẩm, dịch vụ hiện có áp dụng công nghệ đổi mới trước khi đưa vào
sử dụng; áp dụng các biện pháp cần thiết để giảm thiểu rủi ro về rửa tiền.
7. Về giám sát
một số giao dịch đặc biệt (Điều 20)
Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 kế thừa quy định tại Luật Phòng, chống rửa tiền về các
giao dịch đặc biệt mà đối tượng báo cáo phải giám sát, bao gồm: (i) Giao dịch có
giá trị lớn bất thường hoặc phức tạp theo quy định của Chính phủ; (ii) Giao
dịch với tổ chức, cá nhân tại quốc gia, vùng lãnh thổ nằm trong danh sách do
Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố nhằm chống rửa tiền hoặc danh sách cảnh
báo (là danh sách tổ chức, cá nhân do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lập nhằm cảnh
báo về tổ chức, cá nhân có rủi ro cao về rửa tiền). Đồng thời, để giám sát giao
dịch đặc biệt, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 bổ
sung quy định đối tượng báo cáo áp dụng biện pháp tăng cường; kiểm tra thông
tin và mục đích của giao dịch, trường hợp có nghi ngờ về tính chính xác, mục
đích của giao dịch, phải xem xét báo cáo giao dịch đáng ngờ và có thể từ chối
giao dịch đó.
8. Về minh bạch thông tin của pháp nhân, thỏa
thuận pháp lý, minh bạch trong hoạt động của tổ chức phi lợi nhuận (Điều 21 -> Điều 23)
Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 kế thừa và quy định cụ thể hơn một số yêu cầu thu thập, cập nhật, lưu trữ,
thông tin của đối tượng báo cáo, cá nhân, tổ chức có liên quan; quy định trách
nhiệm cung cấp các thông tin này cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cụ thể:
- Về minh bạch thông tin của pháp nhân: Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2022 kế thừa quy định yêu cầu về việc cập nhật, lưu
trữ thông tin cơ bản, chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân đối với cơ quan đăng
ký kinh doanh; bổ sung quy định về việc cập nhật, lưu trữ thông tin cơ bản, chủ
sở hữu hưởng lợi của pháp nhân của cơ quan cấp phép thành lập, hoạt động cho
pháp nhân đó; sửa đổi, làm rõ các thông tin cần và những thông tin nếu có
(thông tin về danh sách người quản lý pháp nhân, điều lệ, thông tin chủ sở hữu
hưởng lợi của pháp nhân) mà cơ quan đăng ký, cơ quan cấp phép thành lập thực
hiện cập nhật, lưu trữ. Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 cũng bổ sung quy định về trách nhiệm thu thập, cập nhật, lưu trữ thông tin
cơ bản, chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân.
- Về minh bạch thông tin thỏa thuận
pháp lý: Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 sửa đổi, bổ sung quy định về minh bạch thông
tin của thỏa thuận pháp lý, theo đó quy định về nghĩa vụ của bên nhận ủy thác
phải thu thập, lưu giữ thông tin về bên ủy thác, bên nhận ủy thác, người thụ
hưởng, các bên liên quan (nếu có) và cá nhân có quyền kiểm soát cuối cùng đối
với ủy thác; có trách nhiệm cung cấp các thông tin này cho các cơ quan có thẩm
quyền khi được yêu cầu; cung cấp thông tin cho tổ chức tài chính, tổ chức, cá
nhân kinh doanh ngành nghề phi tài chính trong quá trình thiết lập và duy trì
mối quan hệ khách hàng với tổ chức, cá nhân này liên quan đến tài sản được ủy
thác khi được yêu cầu.
- Về minh bạch trong hoạt động của tổ chức phi lợi nhuận:
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 bổ sung
quy định về khái niệm tổ chức phi lợi nhuận là tổ chức hoạt động không vì mục
tiêu lợi nhuận, bao gồm tổ chức phi chính phủ nước ngoài, quỹ xã hội, quỹ từ
thiện, các hội, tổ chức tôn giáo được thành lập, đăng ký, hoạt động theo quy
định của pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống
rửa tiền năm 2022 quy định các tổ chức này phải thực hiện thu
thập, cập nhật, lưu trữ hồ sơ về việc tài trợ, tiếp nhận tài trợ của tổ chức
phi lợi nhuận và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu, qua đó
đảm bảo yêu cầu về Phòng, chống rửa tiền trong hoạt động
của các tổ chức này.
9. Về trách
nhiệm xây dựng quy định nội bộ và báo cáo, cung cấp, lưu trữ hồ sơ, thông tin
về phòng, chống rửa tiền (Điều 24)
Về trách nhiệm
xây dựng quy định nội bộ: Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 bổ sung một số nội dung phải có tại quy định nội bộ về phòng,
chống rửa tiền của đối tượng báo cáo, bao gồm: chính sách chấp nhận
khách hàng, trong đó có nội dung về từ chối mở tài khoản, thiết lập mối quan hệ
kinh doanh, thực hiện giao dịch hoặc chấm dứt mối quan hệ kinh doanh; chính
sách, quy trình quản lý rủi ro; tuyển dụng nhân sự, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp
vụ phòng chống rửa tiền. Bổ sung yêu cầu quy định nội bộ phải được áp dụng, phổ
biến trong toàn hệ thống và đại lý của đối tượng báo cáo.
Để phù hợp với
loại hình, quy mô hoạt động của các đối tượng báo cáo, Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2022 có quy định riêng trách nhiệm xây dựng quy định
nội bộ của đối tượng báo cáo là cá nhân, doanh nghiệp siêu nhỏ theo hướng giảm
bớt một số nội dung yêu cầu phải có trong quy định nội bộ cho đối tượng báo cáo
này (như quy trình báo cáo giao dịch phải báo cáo; chế độ báo
cáo, cung cấp thông tin cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền; tuyển dụng nhân sự, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng, chống
rửa tiền; kiểm soát và kiểm toán nội bộ việc tuân thủ các chính
sách, quy định, quy trình và thủ tục liên quan đến hoạt động phòng,
chống rửa tiền, trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận trong việc thực
hiện quy định nội bộ về phòng, chống rửa tiền).
10. Về báo cáo
giao dịch đáng ngờ (Điều 26 -> Điều 33)
Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 luật hóa các quy định tại Nghị định 116/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 (đã
được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 87/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019) đồng thời có
điều chỉnh để đảm bảo rõ ràng, minh bạch đối với quy định cụ thể về các trường
hợp đối tượng báo cáo có trách nhiệm báo cáo giao dịch đáng
ngờ cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong các trường hợp sau: (i) Khi biết giao
dịch được thực hiện theo yêu cầu của bị can, bị cáo, người bị kết án và có cơ
sở hợp lý để nghi ngờ tài sản trong giao dịch là tài sản thuộc quyền sở hữu
hoặc có nguồn gốc thuộc quyền sở hữu, quyền kiểm soát của bị can, bị cáo, người
bị kết án đó. Việc xác định bị can, bị cáo, người bị kết án theo thông báo của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) Khi có cơ sở hợp lý để nghi ngờ tài sản
trong giao dịch liên quan đến rửa tiền được xác định từ việc xem xét, thu thập
và phân tích thông tin khi khách hàng, giao dịch có một hoặc nhiều dấu hiệu
đáng ngờ quy định tại Luật và có thể từ các dấu hiệu khác do đối tượng báo cáo
xác định.
Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống
rửa tiền năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số dấu hiệu đáng ngờ trong
lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh bất
động sản; bổ sung dấu hiệu đáng ngờ đối với hoạt động trung gian thanh toán tại
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022. Về kỹ
thuật, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 đã sửa
đổi theo hướng tách các dấu hiệu đáng ngờ cơ bản và dấu hiệu đáng ngờ trong
từng lĩnh vực thành các điều riêng để dễ theo dõi và thực hiện.
Đồng
thời, để đảm bảo, các dấu hiệu đáng ngờ sẽ được cập nhật để đáp ứng được tình
hình, yêu cầu công tác phòng, chống rửa tiền trong từng thời kỳ, Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2022 quy định: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình
Chính phủ bổ sung các dấu hiệu đáng ngờ theo các ngành, lĩnh vực”.
Về thời hạn báo
cáo giao dịch đáng ngờ, Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn báo cáo, trong đó thời hạn báo cáo tối
đa 03 ngày làm việc kể từ thời điểm phát sinh giao dịch hoặc 01 ngày làm việc kể
từ ngày đối tượng báo cáo phát hiện được giao dịch đáng ngờ.
11. Về giao dịch chuyển tiền điện tử (Điều 34)
Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2022 bổ sung quy định trách nhiệm của các tổ chức
tham gia vào giao dịch chuyển tiền điện tử phải có chính sách, quy trình quản
lý rủi ro để thực hiện, từ chối, tạm dừng, kiểm soát sau giao dịch hoặc báo cáo
giao dịch đáng ngờ các giao dịch chuyển tiền điện tử không chính xác, đầy đủ
các thông tin theo yêu cầu.
12. Về việc lưu trữ, trách nhiệm báo
cáo, bảo đảm bí mật thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo (Điều 38 -> Điều 40)
Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2022 cũng sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm
lưu trữ thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo của đối tượng báo cáo nhằm cụ thể
các loại thông tin đối tượng báo cáo phải lưu trữ; quy định trách nhiệm báo
cáo, cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo này cho cơ quan nhà nước có
thẩm quyền của đối tượng báo cáo; sửa đổi, bổ sung quy định về bảo đảm bí mật
thông tin, tài liệu, báo cáo nhằm phù hợp với quy định pháp luật về bảo vệ bí
mật nhà nước và thực tiễn hoạt động của đối tượng báo cáo.
13. Về thực hiện
thu thập, xử lý, phân tích, trao đổi, cung cấp, chuyển giao thông tin về phòng, chống rửa tiền và áp dụng các biện pháp tạm thời (Điều 41 -> Điều 43)
Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về từng nội dung trao đổi, cung cấp và chuyển
giao thông tin phòng, chống rửa tiền với cơ quan có
thẩm quyền trong nước, cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Đồng thời, bổ sung
việc giao Chính phủ quy định chi tiết về việc thu thập, xử lý và phân tích
thông tin về phòng, chống rửa tiền; hướng dẫn về
việc trao đổi, cung cấp, chuyển giao thông tin phòng, chống
rửa tiền trong nước. Việc sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu
thực tiễn chuyển giao, trao đổi, cung cấp thông tin phòng, chống
rửa tiền tại Ngân hàng Nhà nước với các cơ quan có thẩm quyền
trong và ngoài nước.
14. Về áp dụng các biện pháp tạm thời
(Điều 44 -> Điều 46)
- Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 quy định
rõ các trường hợp thực hiện trì hoãn giao dịch bao gồm: (i) Khi có căn cứ để
nghi ngờ hoặc phát hiện các bên liên quan đến giao dịch thuộc Danh sách đen.
Luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này; (ii) Khi có lý do để tin rằng giao dịch được yêu cầu thực
hiện có liên quan đến hoạt động phạm tội, bao gồm: giao dịch do người bị kết án
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự yêu cầu thực hiện và tài sản trong
giao dịch thuộc quyền sở hữu hoặc có nguồn gốc thuộc quyền sở hữu, quyền kiểm
soát của người bị kết án đó; giao dịch liên quan đến tổ chức, cá nhân thực hiện
hành vi có liên quan đến tội phạm tài trợ khủng bố; (iii) Khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại
các luật liên quan. Luật Phòng, chống rửa
tiền năm 2022 cũng luật hóa quy định về việc miễn trách
nhiệm của đối tượng báo cáo tại Nghị định 116/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 (đã
được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 87/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019) , theo đó
đối tượng báo cáo không phải chịu trách nhiệm pháp lý về những hậu quả phát
sinh khi áp dụng biện pháp trì hoãn giao dịch theo đúng quy định tại Luật.
Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống
rửa tiền năm 2022 cũng bổ sung quy định về thời điểm thực hiện
biện pháp trì hoãn giao dịch theo hướng đảm bảo tính kịp thời, phù hợp với yêu
cầu của khuyến nghị số 6 của FATF.
- Về biện pháp phong tỏa tài khoản, niêm phong, phong tỏa
hoặc tạm giữ tài sản: ngoài kế thừa các biện pháp được quy định tại Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2012, Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 bổ sung quy định đối tượng báo cáo phải thực hiện quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền về việc phong tỏa tài sản của các tổ chức,
cá nhân theo quy định của pháp luật.
15. Về quy định
trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong phòng, chống rửa tiền (Điều 47 ->
Điều 63)
Về cơ bản, nội dung phân công trách nhiệm của các cơ quan
quản lý nhà nước trong phòng, chống rửa tiền được kế
thừa các quy định tại Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012
và trên cơ sở luật hóa nội dung phân công trách nhiệm của bộ, ngành tại Nghị
định 116/2013/NĐ-CP ngày 04/10/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Phòng, chống rửa tiền, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số
87/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019; sửa đổi, bổ sung trách nhiệm cụ thể một số Bộ ,ngành
bảo đảm phù hợp với chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành và tính thống
nhất với quy định pháp luật liên quan. Đồng thời, bổ sung quy định trách nhiệm
của các Bộ, ngành trong việc thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro quốc gia về
rửa tiền đối với lĩnh vực, ngành thuộc chức năng quản lý nhà nước.
16. Về điều
khoản thi hành (Điều 64 -> Điều 66)
- Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 49 Luật Ngân hàng Nhà nước, trong đó bỏ cụm
từ “phòng, chống rửa tiền”. Việc sửa đổi, bổ sung nhằm tạo cơ sở
để triển khai, thực hiện các yêu cầu về nâng cao tính độc lập của đơn vị tình
báo tài chính tại khuyến nghị số 29 của FATF và đánh giá của APG cũng như để
đáp ứng yêu cầu của công tác phòng, chống rửa tiền trong giai đoạn hiện nay.
Nhằm không tạo khoảng trống pháp lý sau khi Luật có hiệu
lực thi hành nhưng chưa kịp hoàn thành việc phân công chức năng đơn vị đầu mối
về phòng, chống rửa tiền thuộc Ngân hàng Nhà nước, Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2022 bổ sung quy định về hiệu lực thi hành tại Điều
66 như sau: Khoản 1 Điều 64 của Luật có hiệu lực thi hành từ ngày quy định khác
về cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ phòng, chống rửa tiền do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành có hiệu lực.
- Để đảm bảo khuôn khổ pháp lý
thống nhất giữa Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 và Luật Phòng, chống khủng
bố, pháp luật về phòng, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, cũng
như đáp ứng các khuyến nghị của FATF và APG, Luật Phòng, chống rửa tiền năm
2022 sửa đổi, bổ sung Điều 34, 35 Luật Phòng, chống khủng bố (khoản 2 Điều 64
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022) và bổ sung quy định về việc áp dụng quy
định của Luật Phòng, chống rửa tiền trong phòng, chống tài trợ phổ biến vũ khí
hủy diệt hàng loạt (Điều 65 Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022), theo đó cho
phép các tổ chức tài chính, tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành nghề phi tài
chính có liên quan được áp dụng quy định từ Điều 9 đến Điều 40 của Luật Phòng,
chống rửa tiền năm 2022 phục vụ công tác phòng, chống tài trợ, phổ biến vũ khí
hủy diệt hàng loạt.
IV. CÁC ĐIỀU
KIỆN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN LUẬT (KINH PHÍ, NHÂN LỰC, CƠ SỞ VẬT CHẤT)
Các tác động về mặt kinh tế, xã hội và tác động đối
với hệ thống pháp luật các chính sách được đề xuất đã được phân tích, đánh giá
cụ thể trong giai đoạn đề nghị xây dựng Luật, trong đó, có một số chính sách có
thể phát sinh thêm chi phí cho đối tượng báo cáo và phát sinh thêm chi phí của
ngân sách nhà nước trong quản lý nhà nước về lĩnh vực phòng, chống rửa tiền.
Đối với các đối tượng báo cáo, các chính sách cơ bản đã và đang được thực hiện,
do đó, chi phí phát sinh thêm không lớn, các đối tượng báo cáo có thể đảm bảo
được nguồn lực, điều kiện thực hiện, khả thi trong thực tế. Đối với các cơ quan
nhà nước, các chính sách về cơ bản cũng được xây dựng dựa trên các nhiệm vụ về phòng,
chống rửa tiền mà các cơ quan nhà nước đã và đang thực hiện. Do đó, hầu hết các
chính sách đề xuất tại giai đoạn đề nghị xây dựng Luật không làm phát sinh thêm
chi phí lớn cho quản lý nhà nước mà có thể phát sinh các khoản chi thường xuyên
(chủ yếu là kinh phí xây dựng, hoàn thiện thể chế; phổ biến pháp luật; đào tạo,
bồi dưỡng nghiệp vụ; thanh tra, giám sát; nâng cấp hệ thống công nghệ…). Như
vậy, nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, công nghệ, nhân lực hiện nay cơ bản
sẽ đủ điều kiện cho việc thi hành Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022.
V. DỰ BÁO TÁC
ĐỘNG CHÍNH SÁCH CỦA LUẬT ĐẾN NGƯỜI DÂN VÀ XÃ HỘI
Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 hướng đến việc
thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền. Hoạt động phòng, chống
rửa tiền được tăng cường sẽ thúc đẩy công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
rửa tiền; qua đó, giảm thiểu các hoạt động tội phạm rửa tiền, gian lận thuế,
tham nhũng; góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, tạo lập môi trường xã
hội minh bạch, an toàn, tạo điều kiện cho hội nhập, hợp tác quốc tế và không có
tác động tiêu cực về mặt xã hội.
VI. TRIỂN
KHAI HOẠT ĐỘNG THI HÀNH LUẬT
1. Về ban
hành văn bản hướng dẫn
Ngày 12/12/2022, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số
1529/QĐ-TTg ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản
quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội Khóa XV thông qua
tại Kỳ họp thứ 4, trong đó, đối với Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 có 03
văn bản quy định chi tiết, cụ thể như sau:
- 01 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều của Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022
(thay thế Nghị định 116/2013/NĐ-CP ngày 04/10/2013 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định
số 87/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019) quy định chi tiết các nội dung giao Chính phủ
hướng dẫn tại Luật Phòng, chống rửa tiền .
- 01 Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng
dẫn thực hiện một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền
năm 2022 (Thay thế Thông tư số 35/2013/TT-NHNN ngày 31/12/2013 của Thống đốc Ngân
hàng nhà nước, được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 31/2014/TT-NHNN ngày
11/11/2014, Thông tư số số 20/2019/TT-NHNN ngày 14/11/2019) quy định chi tiết
các nội dung giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn tại Luật.
- 01 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định mức
giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo (thay thế Quyết định số 20/2013/QĐ-TTg
ngày 18/4/2013).
Đề đảm bảo tuân thủ quy định tại Khoản 2, Điều 11 Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung): “Dự
thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án
luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực
của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết”, 03 văn bản quy định
chi tiết Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 dự kiến sẽ được ban hành và có
hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của Luật là ngày 01/3/2023.
2. Tổ chức
quán triệt, phổ biến cho cán bộ, công chức, viên chức, đối tượng báo cáo và
người dân
Triển khai Luật Phòng, chống rửa tiền 2022 và các văn
bản hướng dẫn thi hành, nhằm đảm bảo quyền được thông tin về pháp luật của công
dân, Ngân hàng Nhà nước sẽ phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện những
công việc sau:
- Đăng tải, cập nhật toàn văn nội dung Luật Phòng,
chống rửa tiền 2022 trên trang thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước để cán
bộ, công chức, viên chức, đối tượng báo cáo và nhân dân dễ dàng tiếp cận, khai
thác và sử dụng khi có nhu cầu.
- Tổ chức biên soạn tài liệu giới thiệu Luật Phòng,
chống rửa tiền 2022; quán triệt, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu nội
dung và tinh thần của Luật Phòng, chống rửa tiền 2022 cho cán bộ, công chức,
viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước.
- Lập kế hoạch và tổ chức đào tạo, hội thảo, tập huấn,
tuyên truyền nội dung của Luật Phòng, chống rửa tiền 2022 cho các đối tượng
chịu tác động trực tiếp của Luật.
- Phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí để truyền
thông các chính sách và những thay đổi lớn của Luật Phòng, chống rửa tiền 2022 bằng
nhiều hình thức khác nhau như tin bài viết, tổ chức tọa đàm, phóng sự.../.

0 Nhận xét