Sau hơn 08 năm triển khai thi hành, Pháp lệnh số
09/2014/UBTVQH13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Pháp lệnh số 09) đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kể, Pháp lệnh đã tạo ra hành lang pháp lý để Tòa án xem
xét, quyết định đưa người vi phạm pháp luật chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm
hình sự vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện ma túy
bắt buộc được kịp thời, đúng đối tượng, đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị đề nghị góp phần giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã
hội, bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân, tổ chức.
Tuy nhiên, quá trình triển khai thi hành Pháp lệnh số 09,
vẫn còn tồn tại một số hạn chế và bất cập như
về thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính còn ngắn gây khó khăn, áp lực trong thực tiễn giải quyết;
việc tham vấn ý kiến của các cơ quan
chuyên môn khi cần làm rõ tình trạng sức khỏe, tâm lý, điều kiện sống, học tập
và làm việc của người bị xử lý vi phạm còn thiếu cụ thể, chung chung; thiếu quy
định về chi phí, lệ phí trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý
hành chính; thiếu các quy định đặc thù đối với người chưa thành niên về Thẩm
phán được phân công phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm giải quyết
các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên; về nguyên tắc bảo đảm tiến hành nhanh chóng, kịp thời, thủ tục thân thiện, phù hợp với tâm
lý, giới, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên …Những hạn chế, bất cập này đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh
số 09 cho phù hợp với tình hình thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi
hành Pháp lệnh.
Cùng
với đó, là những quy định pháp luật mới được ban hành cụ thể như sau: Ngày 13/11/2020, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, trong đó sửa đổi
bổ sung nhiều quy định có liên quan đến áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đặc biệt, việc cho phép áp dụng biện pháp
thay thế xử lý hành chính giáo dục dựa vào cộng đồng đối với người chưa thành
niên bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng[1]. Ngày 24/3/2022,
Ủy
ban Thường vụ Quốc hội khóa XV đã thông qua Pháp lệnh số
01/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc
đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc (sau đây gọi là Pháp lệnh số 01), có tính tương đồng với Pháp lệnh số 09.
Trong khi đó, Pháp lệnh số 01 có nhiều quy định mới, tiến bộ mà Pháp lệnh số 09
hiện hành chưa có.
Như vậy, trải qua thời gian dài áp dụng Pháp lệnh 09 đã xuất hiện nhiều tồn tại, bất
cập cùng với đó là sự ra đời của các quy định pháp luật đã đặt ra yêu cầu ban
hành Pháp lệnh mới. Trên cơ sở đó, pháp lệnh Trình tự, thủ
tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân được Ủy ban
Thường vụ Quốc hội khóa XV, phiên họp
thứ 18 thông qua ngày 13/12/2022. Pháp lệnh có hiệu lực thi hành từ ngày
01/02/2023. Trong khuôn khổ của chuyên đề tìm hiểu một số nội dung chính của
Pháp lệnh như sau:
I. KHÁI NIỆM BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Theo Khoản 3 Điều 2, Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012 có định nghĩa cụ thể về biện pháp xử phạt hành chính như sau:
“Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp
dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà
không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc.”
Như vậy, hiểu một cách đơn giản thì biện pháp xử lý hành
chính là biện pháp tước hoặc hạn chế tự do do cơ quan hành chính quyết định áp
dụng đối với cá nhân chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc thực hiện nhiều
hành vi vi phạm pháp luật chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo trình
tự, thủ tục hành chính nhằm đích giáo dục và răn đen.
Biện pháp xử lý hành chính chính có đặc trưng cơ bản sau:
- Biện pháp xử lý hành chính được áp dụng đối với cá nhân
khi có nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc không có vi phạm hành chính. Khác
với xử phạt hành chính, chỉ áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy định
trong hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý hành chính thì việc áp dụng các
biện pháp xử lý hành chính lại chỉ áp dụng đối với cá nhân khi có nhiều hành vi
vi phạm hành chính hoặc không có vi phạm hành chính. Bắt nguồn từ bản bản chất
của hoạt động này là nhằm mục đích răn đe, định hướng hành vi con người và hy
vọng có thể uốn nắn, cho họ trở thành người có ích cho xã hội. Giới hạn của
biện pháp xử lý hành chính rất hẹp khi áp dụng với những cá nhân có nhiều lần
vi phạm hành vi vi phạm hành chính về an ninh, trật tự. an toàn xã hội nhưng
chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính thuộc về
cơ quan hành chính Nhà nước và cơ quan tư pháp. Nếu như, việc áp dụng các hình
thức xử phạt thuộc về những người có thẩm quyền như các bộ, ban ngành quản lý
trực tiếp và gián tiếp trong từng hoạt động cụ thể được Nhà nước trao quyền thì
với biện pháp xử phạt hành chính thuộc về cơ quan hành chính nhà nước như: Chủ
tịch UBND cấp xã, phường, thị trấn với biện pháp giáo dục thường xuyên tại xã,
phường, thị trấn và cơ quan tư pháp là Tòa án nhân dân đối với biện pháp hạn
chế tự do, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Hầu hết, các đối tượng áp dụng những biện pháp này thường
chủ yếu là những người chưa thành niên, đặt dưới sự giám sát của chính quyền
địa phương, chỉ họ mới là người nắm rõ được bối cảnh, nhân thân và các hoạt
động của những đối tượng này và hạn chế ảnh hưởng đến mọi người xung quanh cho
nên mới phải áp dụng các biện pháp hạn chế quyền tự do.
- Đối tượng áp dụng chỉ với cá nhân và công dân Việt Nam.
Khác với biện pháp xử phạt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính
trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước thì đặc trưng của
hoạt động này là chỉ áp dụng với cá nhân trong nước và không áp dụng đối với
người nước ngoài.
Các biện pháp xử lý hành chính bao gồm biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về cơ bản chỉ có thể áp dụng được với
người Việt Nam. Bởi vì đối với người nước ngoài, họ là chủ thể đặc biệt, là
người có quốc tịch của một quốc gia khác đang lao động, học tập, công tác, sinh
sống trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ có tư cách pháp
lý và được Việt Nam bảo hộ quyền, đồng thời với các hành vi của họ sẽ có đại sứ
quán của nước họ mang quốc tịch quản lý. Tránh ảnh hưởng đến quyền của cá nhân
nước ngoài tại Việt Nam và ảnh hưởng quan hệ ngoại giao thì biện pháp này chỉ
được áp dụng với công dân Việt Nam
- Thủ tục thực hiện hoàn toàn do cơ quan hành chính nhà
nước tiến hành hoặc do cơ quan hành chính nhà nước tiến hành một phần và có sự
tham gia của cơ quan tư pháp.
Các quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được
giao cho các cơ quan có chức năng thi hành. Các biện pháp mang tính chất giáo
dục tại cộng đồng được giao cho cơ quan, tổ chức tại cộng đồng để tổ chức thực
hiện hiện sự điều phối của cơ quan hành chính ở cấp cơ sở. Các biện pháp hạn
chế tự do được thực hiện tại các cơ sở riêng biệt, được quản lý chặt chẽ hơn.
II. CƠ CẤU, BỐ CỤC CỦA PHÁP LỆNH
Pháp lệnh gồm 05 Chương, 44 điều, cụ thể như sau:
Chương I. Những quy định chung (gồm 07 điều,
từ Điều 1 đến Điều 7) Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; nguyên tắc xem xét, quyết định
việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính; thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng
biện pháp xử lý hành chính; kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp
xử lý hành chính; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xem xét,
quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; trách nhiệm quản lý công tác xem
xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; chi phí, lệ phí trong việc
xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Chương II. Trình tự, thủ tục xem xét, quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính (gồm 19 điều, từ Điều 8 đến Điều 26)
Chương này quy định về thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử
lý hành chính; nhận, thụ lý hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
phân công Thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; những
trường hợp phải từ chối, thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp; thông báo về việc
thụ lý hồ sơ đề nghị; kiểm tra hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính; quyền cung cấp tài liệu của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý
hành chính; yêu cầu bổ sung tài liệu; đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; quyết định mở phiên họp xem xét, quyết
định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính; thành phần phiên họp; quyền và
nghĩa vụ của người tham gia phiên họp; tham gia phiên họp xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính; phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính; biên bản phiên họp; nội dung quyết định áp dụng hoặc
không áp dụng biện pháp xử lý hành chính và các quyết định khác; hiệu lực các
quyết định của Tòa án; việc gửi quyết định của Tòa án; quản lý hồ sơ về việc
xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Chương III. Trình tự, thủ tục xem xét, quyết
định việc hoãn hoặc miễn chấp hành; giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp
hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại (gồm 03 điều, từ
Điều 27 đến Điều 29)
Chương này quy định về nhận, thụ lý hồ sơ đề
nghị hoãn hoặc miễn áp dụng biện pháp xử lý hành chính; giảm thời hạn, tạm đình
chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại; hủy bỏ quyết định hoãn hoặc
tạm đình chỉ chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Chương IV. Khiếu nại, kiến
nghị, kháng nghị; giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị trong việc áp dụng
biện pháp xử lý hành chính (gồm 15 điều, từ Điều 30 đến Điều 44)
Chương này được chia làm 02 mục:
- Mục 1. Khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị; giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng
nghị các quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính (từ Điều 30 đến
Điều 37): Các quyết định của Tòa án có thể bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị;
người có quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án;
thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định của Tòa án; thủ tục khiếu
nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định của Tòa án; thủ tục giải quyết khiếu nại,
kiến nghị, kháng nghị quyết định của Tòa án; phiên họp xem xét, giải quyết khiếu
nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án; thẩm quyền của Thẩm phán giải
quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối
với quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện; nội dung và hiệu lực của quyết
định giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
- Mục 2. Khiếu nại, giải quyết khiếu nại hành vi của người có thẩm quyền của Tòa
án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính (từ Điều 38 đến Điều 42): Hành vi có thể bị
khiếu nại trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại; quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại; thời
hạn khiếu nại; thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại.
Chương V. Điều khoản thi hành (gồm có 02
điều: Điều 43 và Điều 44) quy định về hiệu lực thi hành của Pháp lệnh và điều khoản chuyển tiếp.
III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA
PHÁP LỆNH
1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)
Pháp
lệnh quy định trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục
bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây gọi là biện pháp xử lý
hành chính); trình tự, thủ tục xem xét, quyết định việc hoãn, miễn
chấp hành, giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian áp dụng
biện pháp xử lý hành chính còn lại; khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và giải quyết
khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
2.
Về nguyên tắc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp hành chính
(Điều 2)
Khi
xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính bên cạnh việc bảo đảm
các nguyên tắc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính còn phải bảo đảm
các nguyên tắc khác như: quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; quyền dùng tiếng nói, chữ viết của
dân tộc mình; quyền được xem xét theo hai cấp; được tham gia, trình bày ý kiến
trước Tòa án, tranh luận tại phiên họp; việc xem xét, quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính do 01 Thẩm phán thực hiện. Khi xem xét, quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính, Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Bên
cạnh đó, Pháp lệnh còn quy định những nguyên tắc xem xét, quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào trường giáo dưỡng phải bảo đảm tính đặc thù, phù hợp với người
chưa thành niên như: trình tự, thủ tục phải tiến hành nhanh chóng, kịp thời; bảo
đảm thủ tục thân
thiện, phù hợp với tâm lý, giới, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của họ; người chưa thành niên mà không có người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp thì Tòa án yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cử trợ
giúp viên pháp lý, luật sư theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý hoặc Đoàn luật
sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ.
3.
Thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Điều 3)
- Thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân
dân là:
(1) Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có trụ sở cơ quan của người
đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
(2)
Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người bị đề nghị có hành vi vi phạm trong trường
hợp người đề nghị là Trưởng Công an cấp huyện, Giám đốc Công an cấp tỉnh theo
quy định tại khoản 2 Điều 99, khoản 1 Điều 100, khoản 2 Điều 101, khoản 1 Điều
102 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
có thẩm quyền xét lại quyết định của Tòa án
nhân dân cấp huyện bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
4.
Về kiểm sát việc xem xét, quyết định áp
dụng biện pháp xử lý hành chính (Điều 4)
Pháp lệnh quy định việc xem xét, quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính phải được Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp thực hiện kiểm
sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Tòa án nhân dân, cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính; Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm việc
giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.
Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại Tòa
án đã thụ lý, có quyền sao chụp hồ sơ vụ việc đó và tham gia các phiên họp;
tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng
biện pháp xử lý hành chính. Cụ thể Điều 4 Pháp lệnh quy định quyền và trách nhiệm
của Viện kiểm sát như sau:
“1. Viện kiểm sát
nhân dân kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Tòa án nhân
dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp
xử lý hành chính theo quy định của Pháp lệnh này; thực hiện quyền yêu cầu, kiến
nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm việc giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.
2.
Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp; tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm,
tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo
quy định của Pháp lệnh này.
3.
Sau khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ của Tòa án cùng cấp, Viện kiểm sát có
quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại Tòa án đã thụ lý, có quyền sao chụp hồ sơ vụ
việc đó.”
5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xem
xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
(Điều 5)
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can thiệp trái pháp luật vào việc
Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp với Tòa án trong việc xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi có yêu cầu của Tòa án.
- Quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật phải được thi hành và được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải chấp hành quyết định của Tòa án và
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó.
6. Về chi phí, lệ phí trong việc xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc (Điều 7)
Theo
quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh, chi
phí trong việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, gồm:
(1) chi phí cho người phiên dịch,
người dịch thuật; (2) chi
phí cho Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị đề nghị; (3) chi
phí giám định, chi phí sao chụp tài liệu và các khoản chi phí khác theo quy định
của pháp luật; và được thực hiện theo
quy định của pháp luật về chi phí tố tụng.
Việc chi trả chi phí, lệ phí thực hiện như sau:
- Chi phí cho người phiên dịch, người dịch thuật, luật
sư, trợ giúp viên pháp lý nếu người bị đề nghị, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là
người chưa thành niên tự yêu cầu thì họ tự chi trả; nếu do Tòa án yêu cầu thì Tòa án chi trả.
- Chi phí cho trợ giúp viên pháp lý, luật sư do tổ chức thực
hiện trợ giúp pháp lý cử thì thực hiện theo quy định của pháp luật về
trợ giúp pháp lý.
- Lệ phí cấp bản sao giấy tờ, sao chụp tài liệu tại Tòa
án được thực hiện theo quy định của pháp luật về án phí và lệ phí Tòa án.
7. Về sự tham gia của chuyên gia y tế,
tâm lý, giáo dục, xã hội học, đại diện của nhà trường nơi người bị đề nghị học
tập, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận nơi người bị đề nghị cư trú, người làm công tác
bảo vệ trẻ em cấp xã
Để bảo đảm tốt
nhất quyền của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Pháp lệnh
quy định Thẩm phán được quyền tham vấn ý kiến hoặc yêu cầu chuyên gia y tế, tâm
lý, giáo dục, xã hội học, đại diện của nhà trường nơi người bị đề nghị học tập,
đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận nơi người bị đề nghị cư trú và cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia các phiên họp trong trường hợp cần làm rõ
tình trạng sức khỏe, tâm lý, điều kiện sống, học tập của người bị đề nghị; người làm công tác
bảo vệ trẻ em cấp xã tham gia phiên họp để trình bày ý kiến về bảo vệ
trẻ em (các điều 13, 18, 21, 34, 35).
Chẳng hạn Khoản
2 Điều 13 về Kiểm tra hồ sơ đề nghị áp
dụng biện pháp xử lý hành chính quy định như sau: “Trường hợp cần làm rõ tình trạng sức khỏe, tâm lý, điều kiện sống, học
tập, làm việc của người bị đề nghị, Thẩm phán có thể tham vấn ý kiến của chuyên
gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học, đại diện cơ quan, tổ chức nơi người bị
đề nghị làm việc, đại diện nhà trường nơi người bị đề nghị học tập, đại diện Ủy
ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ
chức thành viên của Mặt trận nơi người bị đề nghị cư trú và cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác.”
Khoản 3 Điều 18
quy định về thành phần tham gia phiên họp xem xét, quyết định việc áp dụng biện
pháp xử lý hành chính quy định như sau: “Trường
hợp cần thiết, Tòa án yêu cần người giám định, người phiên dịch, người dịch
thuật, chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học, đại diện cơ quan, tổ chức
nơi người bị đề nghị làm việc, đại diện nhà trường nơi người bị đề nghị học
tập, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận nơi người bị đề nghị cư trú và
những người khác tham gia phiên họp trình bày ý kiến để làm rõ các vấn đề có
liên quan.”
8. Về trình tự, thủ tục xem xét, quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Pháp lệnh quy
định chặt chẽ các trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Chương II); Trình tự, thủ tục xem xét,
quyết định hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian áp
dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại (Chương III); xem xét giải quyết khiếu
nại, kiến nghị, kháng nghị (Chương IV), với một số nội dung cơ bản như sau:
- Quy định rõ
thời hạn Tòa án phải xem xét giải quyết; thời hạn mở phiên họp, thời hạn bổ
sung tài liệu, chứng cứ, hoãn phiên họp, gửi các quyết định của Tòa án và thời
hạn kiến nghị, kháng nghị. Cụ thể, Điều 8 về thời hạn xem xét, quyết định áp
dụng biện pháp xử lý hành chính quy định như sau:
“Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án thụ
lý hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính (sau đây gọi là hồ sơ đề
nghị), Tòa án phải ra một trong các quyết định quy định tại điểm k khoản 3 Điều
21 của Pháp lệnh này; đối với vụ việc cần có thời gian kiểm tra, đánh giá, tham
khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc các vụ việc phức tạp khác thì thời
hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.”
- Quy định cụ
thể các trường hợp được đình chỉ, tạm
đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Chẳng hạn
Điều 16 về Đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử
lý hành chính quy định như sau:
“1. Thẩm phán ra quyết định đình
chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi có một
trong các căn cứ sau đây:
a) Hết thời
hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại các điểm b, c, d và đ
khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;
b) Người bị
đề nghị đã chết;
c) Người bị
đề nghị không thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại
các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 92, khoản 1 Điều 94 hoặc khoản 1 Điều 96 của Luật
Xử lý vi phạm hành chính;
d) Người bị
đề nghị thuộc trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 92, khoản 2 Điều 94 hoặc
khoản 2 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;
đ) Người đề
nghị rút đề nghị;
e) Người bị đề nghị đã có bản án, quyết định hình
sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với hành vi bị đề nghị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính;
g) Người bị
đề nghị đang chấp hành hình phạt tù, đang chờ chấp hành hình phạt tù hoặc hình
phạt tử hình theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
h) Người bị
đề nghị mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ
tuyến huyện trở lên.
2. Thẩm phán
ra quyết định tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý
hành chính khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Hành vi vi
phạm pháp luật của người bị đề nghị có dấu hiệu tội phạm và Tòa án phải chuyển
hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự xem xét hoặc người bị
đề nghị đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đó;
b) Khi phát
sinh tình tiết mới về tình trạng sức khỏe, tâm thần của người bị đề nghị và cần
yêu cầu người đề nghị tiến hành trưng cầu giám định.”
- Quy định việc cung cấp tài liệu, đơn đề nghị hoãn, miễn áp dụng
biện pháp xử lý hành chính có thể được thực hiện bằng phương thức nộp trực tiếp
tại Tòa án hoặc gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; gửi trực tuyến
bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có);
- Phiên họp xem
xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được tổ chức trực tiếp hoặc
trực tuyến; Phiên họp thực hiện theo thứ tự hỏi đáp, tranh luận cụ thể, rõ
ràng;
- Quy định cụ
thể các loại quyết định của Tòa án có thể bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị
và thời điểm có hiệu lực của các quyết định này. Cụ thể, Điều 30 quy định các
quyết định bao gồm:
“1. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính, quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính, quyết định áp dụng
biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng.
2. Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ
việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
3. Quyết định về việc hoãn hoặc miễn
chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
4. Quyết định về việc giảm thời hạn,
tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành
chính còn lại.
5. Quyết định buộc
chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.”
9. Về thủ tục thân thiện đối với người
chưa thành niên
Pháp lệnh quy
định một số thủ tục thân thiện đối với người chưa thành niên, chẳng hạn Khoản 1
Điều 10 Pháp lệnh quy định: “Đối với việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng,
Thẩm phán được phân công phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm giải quyết các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên hoặc có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người chưa thành niên.”. Cụ thể, các thủ tục bảo đảm lợi ích
tốt nhất và phù hợp cho các em như sau:
- Thẩm phán
được phân công tiến hành phiên họp phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh
nghiệm giải quyết các vụ việc liên quan đến người dưới 18 tuổi hoặc có hiểu
biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi. Tại
phiên họp Thẩm phán mặc trang phục hành chính của Tòa án nhân dân;
- Phòng họp được
bố trí thân thiện, an toàn;
- Trong phiên
họp, cha mẹ hoặc người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp được hỗ trợ người
chưa thành niên;
- Việc hỏi
người bị đề nghị phải phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển, trình độ văn hóa
và hiểu biết của họ. Câu hỏi cần ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, không hỏi nhiều
vấn đề cùng một lúc.
10.
Biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng để thay thế cho biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng
Giáo dục dựa vào cộng đồng
là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với người từ đủ 12
tuổi đến dưới 14 tuổi thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng nhưng có nơi cư trú ổn định, đang theo học tại cơ sở giáo dục và cha mẹ,
người giám hộ cam kết bằng văn bản về việc quản lý, giáo dục (Điều 140a Luật Xử lý vi phạm hành chính).
Để bảo
đảm tính đồng bộ, khả thi trên thực tiễn khi áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào
cộng đồng theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh đã quy định:
- Trong phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử
lý hành chính thì người bị đề nghị trình bày ý kiến về căn cứ áp dụng biện pháp
giáo dục dựa vào cộng đồng để thay thế cho biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng;
- Khi
xem xét đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, nếu có đủ căn cứ
nêu trên thì Thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng
đồng để thay thế biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Trường hợp Thẩm phán quyết định không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
mà áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng thì công bố nội dung quyết định
này tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
-
Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng phải nêu rõ thời hạn áp
dụng và thể hiện rõ việc không áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng;
- Việc
gửi quyết định áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng có hiệu lực pháp luật để thi hành
được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 140a của Luật Xử lý vi phạm
hành chính.
11.
Điều khoản chuyển tiếp
Pháp lệnh quy định nội dung điều khoản chuyển tiếp để bảo
đảm thống nhất, ổn định với Pháp lệnh số 09 như sau:
- Đối với những vụ việc đã được
Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý, giải quyết theo quy định tại Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 nhưng đến ngày 01 tháng 02 năm 2023
chưa kết thúc thì tiếp tục áp dụng quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 để
xem xét, giải quyết cho đến khi kết thúc vụ việc, trừ các nội dung sau đây thì
áp dụng quy định của Pháp lệnh này:
a) Các quy định bảo đảm thủ tục
thân thiện đối với người chưa thành niên tại khoản 1 và khoản 3 Điều 2, khoản 1 Điều 10, khoản 2
và khoản 3 Điều 13, khoản 3 Điều 18, điểm
e khoản 3 và khoản 4 Điều 21, điểm d khoản 4 Điều 34, khoản 1 và điểm đ khoản 3
Điều 35 của Pháp lệnh này;
b) Việc đình chỉ xem xét, quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại điểm h khoản 1 Điều 16 của
Pháp lệnh này;
c) Việc áp dụng biện pháp giáo
dục dựa vào cộng đồng;
d) Các quy định khác của Pháp lệnh
này có lợi cho người bị đề nghị.
- Đối với những vụ việc đã được Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết theo quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 mà có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị thì từ ngày 01 tháng 02 năm 2023 Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, trừ các nội dung quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này thì áp dụng quy định của Pháp lệnh này.
Như vậy, pháp lệnh về trình tự,
thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân ra đời đã tiếp tục
hoàn thiện các cơ chế, chính sách, trình tự, thủ tục trong việc Tòa án nhân dân
xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính và khắc phục những
khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong quá trình thi hành Pháp lệnh số
09, nhằm nâng cao hiệu
quả phòng chống vi phạm pháp luật, đồng thời bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi
ích hợp pháp của người vi phạm, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải
cách tư pháp.
0 Nhận xét