NỘI DUNG CƠ BẢN LUẬT
KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH NĂM 2023
Luật Khám bệnh, chữa
bệnh được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp bất
thường lần thứ 2 thông qua ngày 09 tháng 01 năm 2023, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 01 năm 2024.
Phần thứ nhất
SỰ CẦN THIẾT, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH LUẬT KHÁM
BỆNH, CHỮA BỆNH
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
1. Cơ sở chính trị
-Nghị quyết số
19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản
lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công
lập;
-Nghị quyết số
20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới;
-Nghị quyết số
41/2021/QH15 ngày 13/11/2021 của Quốc
hội về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc
hội Khóa XV.
2. Cơ sở thực tiễn
Ngay sau khi Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 được
ban hành, Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ, ngành đã ban hành văn bản hướng dẫn thi
hành luật. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh ra đời
đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh
vực khám bệnh, chữa bệnh. Cụ thể:
- Đã góp phần
chuẩn hóa chất lượng của hoạt động khám bệnh, chữa bệnh thông qua việc quy định
điều kiện tối thiểu để cấp chứng chỉ hành nghề cho người hành nghề và giấy phép
hoạt động cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
-Đã góp phần tăng
cường khả năng tiếp cận với dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của người dân, bảo đảm
người dân được khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở đủ điều kiện. Các cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh của nhà nước đã được thành lập và hoạt động trước đây đã được
đầu tư, đạt đủ điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động. Sau hơn 11 năm thực
hiện, hiện nay cả nước có khoảng 52.000 cơ sở khám, chữa bệnh,bao gồm nhà nước
và tư nhân (trong đó có 306 bệnh viện tư nhân và 37.350 phòng khám tư nhân).
- Góp phần
quan trọng trong việc từng bước nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh, tạo hành lang pháp lý để y học Việt Nam đã tiếp cận được các kỹ
thuật mới, phương pháp mới, kỹ thuật y khoa tiên tiến, hiện đại hàng đầu thế
giới, góp phần làm tăng tuổi thọ trung bình của người Việt Nam cao hơn tuổi thọ
trung bình của dân số thế giới (73,7 tuổi), cũng như thu hút khoảng 300.000
lượt người nước ngoài đến khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tựu đạt
được, sau hơn 11 năm triển khai thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 đã
nảy sinh một số vướng mắc, bất cập, những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn chưa
có cơ chế pháp lý để giải quyết. Cụ thể:
a) Về quản lý người hành nghề
- Về đối tượng được cấp chứng chỉ hành nghề: Luật
Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định cấp chứng chỉ hành nghề theo đối tượng
và văn bằng chuyên môn. Việc quy định cấp chứng chỉ hành nghề theo đối tượng và
văn bằng chuyên môn gây khó khăn cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quá
trình tổ chức thực hiện khám bệnh, chữa bệnh và thanh quyết toán bảo hiểm y tế
vì trên thực tế không có sự thống nhất giữa cách ghi ngành đào tạo trong văn
bằng chuyên môn, một số văn bằng chuyên môn ghi ngành đào tạo không có trong
đối tượng được cấp chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa
bệnh năm 2009 nhưng vẫn đang làm việc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và là
đối tượng được cấp chứng chỉ hành nghề, ví dụ: Cử nhân sinh học làm kỹ thuật
viên xét nghiệm; một số đối tượng, chức danh chuyên môn làm việc tại cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh hoặc làm công việc chuyên môn tham gia trực tiếp vào quá trình
khám bệnh, chữa bệnh nhưng chưa được cấp chứng chỉ hành nghề như: Cử nhân dinh
dưỡng, cử nhân tâm lý trị liệu.
- Về điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề: Luật Khám
bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định việc cấp chứng chỉ hành nghề dựa trên văn
bằng chuyên môn của người đề nghị cấp nên không đánh giá được thực chất năng
lực người hành nghề, chất lượng đào tạo. Đa số các nước trên thế giới đều cấp
giấy phép hành nghề dựa trên kết quả kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề.
- Việc sử dụng ngôn ngữ của người hành nghề là người
nước ngoài trong đó cho phép người nước ngoài sử dụng phiên dịch còn nhiều bất
cập như: Hạn chế trong việc khai thác tiền sử bệnh tật, tình trạng sức khỏe,
các dấu hiệu lâm sàng, việc ghi chép hồ sơ bệnh án, kê đơn … do tình trạng bất
đồng ngôn ngữ giữa người hành nghề, người phiên dịch và người bệnh; tình trạng
người phiên dịch không làm việc sau khi người nước ngoài đã được cấp chứng chỉ
hành nghề; tình trạng người phiên dịch lợi dụng vị trí để hành nghề trái phép.
Bên cạnh đó, việc sử dụng người phiên dịch cũng tạo ra bất cập trong việc xác
định trách nhiệm pháp lý khi xảy ra sự cố y khoa do khó có thể xác định nguyên
nhân gây ra sự cố do chỉ định của người hành nghề hay lỗi tại người phiên
dịch...
- Về thời hạn giá trị của chứng chỉ hành nghề: Luật
Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 không quy định thời hạn giá trị của chứng chỉ
hành nghề (chứng chỉ hành nghề có giá trị vĩnh viễn). Việc quy định như trên
gây khó khăn trong việc theo dõi, giám sát quản lý chất lượng hành nghề khi
chuẩn hóa các điều kiện chuyên môn, cập nhật kiến thức y khoa liên tục và quá
trình hành nghề của người hành nghề. Bên cạnh đó, quy định này cũng không phù
hợp với thông lệ quốc tế (các nước trên thế giới đều quy định giấy phép hành
nghề có thời hạn) gây khó khăn cho việc hội nhập của y tế Việt Nam với các nước
trong khu vực và trên thế giới về khám bệnh, chữa bệnh.
b)Về quản lý cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh
- Về hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 đã quy định các hình thức tổ chức cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh nhưng chưa bao phủ hết các loại hình tổ chức cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh đã tồn tại trong thực tế hoặc mới phát sinh.
- Về quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa
bệnh: Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 chưa có giải pháp nhằm quản lý hoạt
động khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh dẫn đến tình trạng
thiếu sự liên thông trong theo dõi sức khỏe, tình trạng bệnh tật của người bệnh
giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
c) Về các điều
kiện bảo đảm cho công tác khám bệnh, chữa bệnh
- Về bảo đảm an ninh đối với cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh: vấn đề an ninh cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa được quy định trong Luật
Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 nên chưa có quy định cụ thể về các biện pháp bảo
đảm an ninh cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trong đó có sự tham gia của lực lượng
công an trong bảo đảm an ninh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hay vấn đề
kinh phí bảo đảm cho hoạt động này. Mặc dù trong những năm qua ngành y tế đã có
nhiều cố gắng trong việc triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh bệnh viện,
bảo đảm an toàn cho người hành nghề như việc ký kết Quy chế phối hợp số
03/QC-BCA-BYT ngày 26/9/2013 giữa Bộ Công an và Bộ Y tế về công tác bảo đảm an
ninh, trật tự trong lĩnh vực y tế, Quy chế phối hợp giữa Cục Quản lý khám, chữa
bệnh với Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an ngày
23/01/2019 hay việc tổ chức các diễn đàn, chương trình truyền thông về bảo đảm
an ninh bệnh viện vẫn chưa đạt hiệu quả cao.
- Một số quy định không còn thực sự phù hợp với thực
tiễn và pháp luật có liên quan như quy định về giá dịch vụ khám bệnh, chữa
bệnh, nguồn tài chính,.. hoặc chưa có quy định như phân cấp hệ thống cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh theo quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 19-NQ/TW, Nghị quyết
20-NQ/TW…
d) Những vấn đề liên quan
- Một số nội dung
liên quan đến chuyên môn trong khám bệnh, chữa bệnh như: khám bệnh, chữa bệnh
từ xa; điều trị nội trú ban ngày; phục hồi chức năng; khám sức khỏe; khám giám
định; chăm sóc người bệnh; dinh dưỡng lâm sàng; cấp cứu ngoại viện, phòng ngừa
sự cố y khoa ... chưa được quy định trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009,
do vây chưa có cơ sở pháp lý để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và tổ
chức triển khai thực hiện.
- Một số quy định
về thẩm quyền, thủ tục hành chính như các quy định liên quan đến cấp chứng chỉ
hành nghề, giấy phép hoạt động, thủ tục cấp phép khám bệnh, chữa bệnh nhân
đạo... không còn phù hợp với thực tiễn.
- Thực tiễn công tác
phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian qua cho thấy đã bộc lộ một số hạn
chế, bất cập: vấn đề điều động nhân lực; vấn đề cấp giấy phép hoạt động của cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh; vấn đề khám bệnh, chữa bệnh từ xa; vấn đề kê đơn, cấp
phát thuốc cho người bệnh.
Do đó, để thể chế hóa quan điểm của Đảng, khắc phục
những tồn tại, hạn chế của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 và giải quyết các
vấn đề về thực tiễn phát sinh chưa có cơ sở pháp lý thì việc xây dựng và ban
hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 là rất cần thiết.
II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH CỦA LUẬT
1. Quan điểm xây dựng Luật
- Tiếp tục thể chế
hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về tăng cường
công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
- Lấy người bệnh làm
trung tâm cho mọi hoạt động cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên cơ sở
tăng cường khả năng tiếp cận với dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh chất lượng cao và
phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Tiếp tục thực hiện
chính sách xã hội hóa và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế với sự tham gia
tích cực của các hội nghề nghiệp, người hành nghề và người bệnh; bảo đảm sự
công bằng giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và tư nhân.
- Đổi mới cơ chế để
bảo đảm quyền của người bệnh gắn với trách nhiệm của người hành nghề và cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh, cũng như quyền của người hành nghề, của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh gắn với trách nhiệm của người bệnh và thân nhân người bệnh.
- Tập trung đẩy
nhanh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh.
- Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất,
đồng bộ, có tính khả thi, phù hợp với chuẩn mực của pháp luật quốc tế về khám
bệnh, chữa bệnh và bảo đảm yếu tố về bình đẳng giới.
2. Mục tiêu chính sách của Luật
Xây dựng dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi)
nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, khắc phục những hạn
chế, bất cập, giải quyết những vấn đề mới phát sinh để phát triển và nâng cao
chất lượng dịch vụ y tế cho người dân theo định hướng công bằng, chất lượng,
hiệu quả, phát triển và hội nhập quốc tế; tăng cường hiệu lực, hiệu quả, trật
tự, kỷ cương, kỷ luật của quản lý nhà nước về hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
Phần thứ hai
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH NĂM 2023
I. BỐ CỤC
Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 (sau đây viết gọn
là Luật) gồm 12 chương và 121 điều (tăng 3 chương gồm các Chương VI, VII và XI
so với Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009):
- Chương I. Những quy định chung, gồm 08 Điều (từ
Điều 1 đến Điều 8).
- Chương II. Quyền và nghĩa vụ của người bệnh, gồm
10 Điều (từ Điều 9 đến Điều 18).
- Chương III. Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh,
gồm 29 Điều (từ Điều 19 đến Điều 47).
- Chương IV. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, gồm 13 Điều
(từ Điều 48 đến Điều 60).
- Chương V. Chuyên môn kỹ thuật, gồm 24 Điều
(từ Điều 61 đến Điều 84).
- Chương VI. Khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ
truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, gồm 03 Điều (từ Điều
85 đến Điều 87).
- Chương VII. Khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo, khám
bệnh, chữa bệnh không vì mục đích lợi nhuận, chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về
khám bệnh, chữa bệnh, gồm 04 Điều (từ Điều 88 đến Điều 91).
- Chương VIII. Áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới
trong khám bệnh, chữa bệnh và thử nghiệm lâm sàng trong khám bệnh, chữa bệnh,
gồm 08 Điều (từ Điều 92 đến Điều 99).
- Chương IX. Sai sót chuyên môn kỹ thuật, gồm 04
Điều (từ Điều 100 đến Điều 103).
- Chương X. Điều kiện bảo đảm hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh, gồm 11 Điều (từ Điều 104 đến Điều 114).
- Chương XI. Huy động, điều động nguồn lực phục vụ
công tác khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch
bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm a hoặc tình trạng khẩn cấp, gồm 04 Điều (từ Điều
115 đến Điều 118).
- Chương XII. Điều khoản thi hành, gồm 03 Điều (từ
Điều 119 đến Điều 121).
II. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN
1.Quyền và nghĩa vụ của người bệnh
a) Quyền của người bệnh
- Quyền được
khám bệnh, chữa bệnh (Điều 9):
+ Được thông tin, giải thích về tình trạng sức khỏe;
phương pháp, dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh;
được hướng dẫn cách tự theo dõi, chăm sóc, phòng ngừa tai biến.
+ Được khám bệnh, chữa bệnh bằng phương pháp an toàn
phù hợp với bệnh, tình trạng sức khỏe của mình và điều kiện thực tế của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh.
- Quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe và
tôn trọng bí mật riêng tư trong khám bệnh, chữa bệnh (Điều 10):
+ Được tôn trọng về tuổi, giới tính, dân tộc, tôn
giáo, tín ngưỡng, tình trạng sức khỏe, điều kiện kinh tế, địa vị xã hội.
+ Được giữ bí mật thông tin trong hồ sơ bệnh án và
thông tin khác về đời tư mà người bệnh đã cung cấp cho người hành nghề trong
quá trình khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường hợp người bệnh đồng ý chia sẻ thông
tin theo quy định của pháp luật hoặc trường hợp được khai thác thông tin theo
quy định của Luật này.
+ Không bị kỳ thị, phân biệt đối xử, ngược đãi, lạm
dụng thể chất, lạm dụng tình dục trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.
+ Không bị ép buộc khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường
hợp bắt buộc chữa bệnh.
- Quyền được lựa chọn trong khám bệnh, chữa bệnh
(Điều 11):
+ Lựa chọn phương pháp khám bệnh, chữa bệnh sau khi
được cung cấp thông tin, giải thích, tư vấn đầy đủ về tình trạng bệnh, kết quả,
rủi ro có thể xảy ra, trừ trường hợp theo quy định của Luật.
+ Chấp nhận hoặc từ chối tham gia nghiên cứu y sinh
học về khám bệnh, chữa bệnh.
- Quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và
chi phí khám bệnh, chữa bệnh (Điều 12):
+ Được đọc, xem, sao chụp, ghi chép hồ sơ bệnh án và
cung cấp tóm tắt hồ sơ bệnh án.
+ Được cung cấp và giải thích chi tiết về các khoản
chi trả dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh khi có yêu cầu.
- Quyền được từ chối khám bệnh, chữa bệnh và rời
khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Điều 13):
+ Được từ chối khám bệnh, chữa bệnh nhưng phải cam
kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về việc từ chối của mình sau khi đã được
người hành nghề tư vấn, trừ trường hợp bắt buộc chữa bệnh.
+ Được rời khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi chưa
kết thúc chữa bệnh trái với chỉ định của người hành nghề nhưng phải cam kết tự
chịu trách nhiệm bằng văn bản về việc rời khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trừ
trường hợp bắt buộc chữa bệnh.
- Quyền kiến nghị và bồi thường (Điều 14):
+ Được kiến nghị về tồn tại, bất cập, khó khăn,
vướng mắc và vấn đề khác trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.
+ Được bồi thường theo quy định của Luật.
- Việc thực hiện quyền của người bệnh bị mất năng
lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế năng
lực hành vi dân sự, người bệnh là người chưa thành niên và người bệnh không có
thân nhân (Điều 15)
+Trường hợp người bệnh là người thành niên và rơi
vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng trước đó đã có văn bản thể
hiện nguyện vọng hợp pháp về khám bệnh, chữa bệnh của mình thì thực hiện theo
nguyện vọng của người bệnh.
+ Trường hợp người bệnh là người thành niên và rơi
vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng trước đó không có văn bản
thể hiện nguyện vọng hợp pháp về khám bệnh, chữa bệnh của mình thì thực hiện
như sau: (1) nếu có người đại diện thì thực hiện theo quyết định của người đại
diện; (2) nếu không có người đại diện thì thực hiện theo quyết định của người
chịu trách nhiệm chuyên môn hoặc người trực lãnh đạo của cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh.
+ Trường hợp người bệnh là người chưa thành niên thì
thực hiện như sau: (1) nếu có người đại diện thì thực hiện theo quyết định của
người đại diện; (2) nếu không có người đại diện thì thực hiện theo quyết định
của người chịu trách nhiệm chuyên môn hoặc người trực lãnh đạo của cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh.
b) Nghĩa vụ của người bệnh
- Nghĩa vụ tôn trọng người hành nghề và người khác
làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Điều 16):
Tôn trọng người hành nghề; không được đe dọa, xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người hành nghề và
người khác làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Nghĩa vụ chấp hành các quy định trong khám bệnh,
chữa bệnh (Điều 17):
+ Cung cấp trung thực và chịu trách nhiệm về thông
tin liên quan đến nhân thân, tình trạng sức khỏe của mình, hợp tác đầy đủ với
người hành nghề và người khác làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
+ Chấp hành chỉ định về chẩn đoán, phương pháp chữa
bệnh của người hành nghề.
+ Chấp hành và yêu cầu thân nhân, người đến thăm
mình chấp hành nội quy của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, quy định của pháp luật
về khám bệnh, chữa bệnh.
- Nghĩa vụ chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh
(Điều 18):
+ Người bệnh tham gia bảo hiểm y tế có nghĩa vụ chi
trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng và mức hưởng theo quy
định của pháp luật về bảo hiểm y tế.
+ Người bệnh không tham gia bảo hiểm y tế có nghĩa
vụ chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
2.Quyền và nghĩa vụ của người hành nghề
a) Quyền của người hành nghề
- Quyền hành nghề (Điều 39):
+ Được hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo đúng phạm
vi hành nghề cho phép.
+ Được quyết định về việc chẩn đoán, phương pháp chữa
bệnh trong phạm vi hành nghề cho phép.
+ Được hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh khác nhau nhưng phải tuân thủ quy định về đăng ký hành
nghề của Luật.
+ Được tham gia các tổ chức xã hội - nghề nghiệp về
khám bệnh, chữa bệnh.
- Quyền từ chối khám bệnh, chữa bệnh (Điều 40):
Người hành nghề được từ chối khám bệnh, chữa bệnh
trong các trường hợp sau đây:
+ Tiên lượng tình trạng bệnh vượt quá khả năng hoặc
không thuộc phạm vi hành nghề của mình nhưng phải giới thiệu người bệnh đến
người hành nghề khác hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác phù hợp để khám bệnh,
chữa bệnh và phải thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu, theo dõi, chăm sóc, điều trị
người bệnh cho đến khi người bệnh được người hành nghề khác tiếp nhận hoặc
chuyển đi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác;
+ Việc khám bệnh, chữa bệnh trái với quy định của
pháp luật hoặc đạo đức nghề nghiệp;
+ Người bệnh, thân nhân của người bệnh có hành vi
xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng của người hành nghề khi đang thực hiện
nhiệm vụ, trừ trường hợp người đó mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không
nhận thức, làm chủ được hành vi;
+ Người bệnh yêu cầu phương pháp khám bệnh, chữa
bệnh không phù hợp với quy định về chuyên môn kỹ thuật;
+ Người bệnh, người đại diện của người bệnh là người
thành niên bị rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong
làm chủ nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự không chấp
hành chỉ định về chẩn đoán, phương pháp chữa bệnh của người hành nghề sau khi
đã được người hành nghề tư vấn, vận động thuyết phục mà việc không chấp hành
này có nguy cơ gây hại đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh.
- Quyền được nâng cao năng lực chuyên môn (Điều 41):
+ Được đào tạo, phát triển năng lực chuyên môn.
+ Được cập nhật kiến thức y khoa liên tục phù hợp
với phạm vi hành nghề.
+ Được tham gia bồi dưỡng, trao đổi thông tin về
chuyên môn, kiến thức pháp luật về y tế.
- Quyền được bảo vệ khi xảy ra sự cố y khoa (Điều
42):
+ Được pháp luật bảo vệ và không phải chịu trách
nhiệm khi đã thực hiện đúng quy định mà vẫn xảy ra sự cố y khoa.
+ Được đề nghị cơ quan, tổ chức, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp về khám bệnh, chữa bệnh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi
xảy ra sự cố y khoa.
- Quyền được bảo đảm an toàn khi hành nghề khám
bệnh, chữa bệnh (Điều 43)
+ Được bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động khi làm
việc theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
+ Được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, sức khỏe và tính
mạng.
+ Được phép tạm rời khỏi nơi làm việc trong trường
hợp bị người khác đe dọa đến sức khỏe, tính mạng nhưng phải báo cáo ngay với
người chịu trách nhiệm chuyên môn hoặc người trực lãnh đạo của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh và với cơ quan công an hoặc chính quyền địa phương nơi gần nhất.
b) Nghĩa vụ của người hành nghề
- Nghĩa vụ đối với người bệnh (Điều 44):
+ Kịp thời sơ cứu, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh cho
người bệnh, trừ trường hợp được phép theo quy định của Luật.
+ Tôn trọng các quyền của người bệnh, có thái độ ân
cần, hòa nhã với người bệnh.
+ Tư vấn, cung cấp thông tin theo quy định của Luật
này.
+ Đối xử bình đẳng với người bệnh, không để lợi ích
cá nhân hay sự phân biệt đối xử ảnh hưởng đến quyết định chuyên môn của mình.
+ Chỉ được yêu cầu người bệnh chi trả các chi phí
khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
- Nghĩa vụ đối với nghề nghiệp (Điều 45):
+ Tuân thủ quy định về chuyên môn kỹ thuật.
+ Chịu trách nhiệm về việc khám bệnh, chữa bệnh của
mình.
+ Thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức y khoa
liên tục.
+ Tận tâm trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.
+ Giữ bí mật tình trạng bệnh của người bệnh, những
thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp người bệnh
đồng ý chia sẻ thông tin và trường hợp được khai tác thông tin theo quy định
của Luật.
+ Thông báo với người có thẩm quyền về người hành
nghề có hành vi lừa dối người bệnh hoặc vi phạm quy định của Luật.
- Nghĩa vụ đối với đồng nghiệp (Điều 46):
+ Hợp tác với đồng nghiệp trong khám bệnh, chữa
bệnh.
+ Tôn trọng danh dự và uy tín của đồng nghiệp.
- Nghĩa vụ đối với xã hội (Điều 47):
+ Tham gia cấp cứu, bảo vệ sức khỏe và giáo dục sức
khỏe tại cộng đồng.
+ Tham gia giám sát về năng lực chuyên môn và đạo
đức nghề nghiệp của người hành nghề khác.
- Chấp hành quyết định luân phiên có thời hạn của cơ
quan quản lý trực tiếp; quyết định huy động, điều động của cơ quan, người có
thẩm quyền về việc tham gia hoạt động khám bệnh, chữa bệnh khi có thiên tai,
thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp, trừ các
trường hợp sau đây:
+ Người hành nghề đang mang thai hoặc đang nuôi con
dưới 24 tháng tuổi, trừ trường hợp người đó tự nguyện;
+ Người hành nghề thuộc nhóm nguy cơ cao đối với các
bệnh dịch và trường hợp khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
3. Về nâng cao kỹ năng hành nghề, tăng cường quản lý
hoạt động của người hành nghề
a) Về nâng
cao, chuẩn hóa kỹ năng của người hành nghề:
- Quy định
phải kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề trước khi cấp giấy phép hành nghề đối
với các chức danh: Bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dinh dưỡng
lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm lý lâm sàng.
Các đối tượng là Lương y, người có bài thuốc gia
truyền, người có phương pháp chữa bệnh gia truyền tiếp tục áp dụng hình thức
xét cấp trên cơ sở hồ sơ của các đối tượng nêu trên.
So với hồ sơ đề nghị xây dựng Luật đã được Ủy ban
Thường vụ Quốc hội thông qua, dự án Luật có bổ sung 03 chức danh là dinh dưỡng
lâm sàng; tâm lý lâm sàng và cấp cứu viên ngoại viện.
Việc bổ sung các chức danh nêu trên xuất phát từ
việc thực hiện đúng nguyên lý người trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh phải có giấy
phép hành nghề. Bên cạnh đó, theo các chuyên gia y tế thì việc ghép các chức
danh dinh dưỡng lâm sàng, tâm lý lâm sàng và cấp cứu viên ngoại viện trong chức
danh kỹ thuật y là không thực sự phù hợp với bản chất công việc của các chức
danh này.
- Việc kiểm
tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do Hội đồng Y khoa Quốc
gia là tổ chức do Thủ tướng Chính phủ thành lập, có chức năng đánh giá độc lập
năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh chủ trì tổ chức thực hiện (Điều 24,
Điều 25)
- Quy định
thời hạn giấy phép hành nghề là 05 năm (Điều 27). Khi giấy phép hết hạn, người
hành nghề phải thực hiện thủ tục gia hạn giấy phép hành nghề hạn ít nhất
60 ngày trước thời điểm giấy phép hành nghề hết hạn, trừ trường hợp khác theo
quy định của Chính phủ.
- Quy định
người nước ngoài hành nghề hành nghề lâu dài tại Việt Nam và khám bệnh, chữa
bệnh cho người Việt Nam phải sử dụng tiếng Việt thành thạo trong khám bệnh,
chữa bệnh trừ các trường hợp sau đây (Điều 21):
+ Người bệnh
có cùng ngôn ngữ mẹ đẻ với người hành nghề; người bệnh có khả năng sử dụng
chung ngôn ngữ mà người hành nghề đã đăng ký;
+ Người bệnh
là người nước ngoài, không cùng ngôn ngữ mẹ đẻ với người hành nghề và không có
khả năng sử dụng chung ngôn ngữ mà người hành nghề đã đăng ký.
+ Khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo theo đợt; chuyển
giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh, chữa bệnh theo thỏa thuận hợp tác giữa
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Việt Nam với cơ sở y tế của nước ngoài.
-Luật cũng quy
định không cấp mới giấy phép hành nghề cho đối tượng là y sỹ có văn bằng đào
tạo trình độ trung cấp sau ngày 31 tháng 12 năm 2026 (khoản 10 Điều 121).
b) Về quản lý người hành nghề:
- Bỏ quy định
đối tượng theo văn bằng chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề như Luật Khám
bệnh, chữa bệnh năm 2009 và thay thế bằng quy định chức danh nghề nghiệp phải
có giấy phép hành nghề. Trên cơ sở chức danh nghề nghiệp được quy định trong
Luật, Chính phủ sẽ quy định văn bằng chuyên môn tương ứng với từng chức danh
(Điều 26).
-Xây dựng, quản
lý, vận hành Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh phục
vụ công tác quản lý nhà nước (Điều 112).
- Quy định
giấy phép hành nghề có giá trị thời hạn là 05 năm với điều kiện gia hạn là phải
cập nhật kiến thức y khoa cùng với việc phải có đủ sức khỏe và không thuộc
trường hợp bị cấm hành nghề (Điều 32).
4. Về nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh, tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân với
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
a) Về nâng cao
chất lượng cung cấp dịch vụ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
- Bổ sung quy định giao Bộ Y tế ban hành các tiêu
chí đánh giá chất lượng để phục vụ hoạt động quản lý nhà nước về khám bệnh,
chữa bệnh, đồng thời thúc đẩy các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tăng cường nâng
cao chất lượng cung cấp dịch vụ.Bên cạnh đó, Luật vẫn giữ nguyên quy định
khuyến khích các cơ sở áp dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng quốc tế, tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng theo chuyên khoa hoặc dịch vụ kỹ thuật (Điều 57, Điều
58).
- Bổ sung quy định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải
có hạ tầng công nghệ thông tin bảo đảm kết nối với Hệ thống thông tin về quản
lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh do Bộ Y tế tổ chức và quản lý.Đây là biện
pháp vừa nhằm mục tiêu thuận lợi cho người bệnh thông qua việc liên thông hồ sơ
bệnh án giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đồng thời cũng là giải pháp để quản
lý hoạt động hành nghề của các cá nhân (Điều 112).
b) Về tăng
cường khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân với dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh,
đa dạng hoá các loại hình khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể hoá các trường hợp khám
bệnh, chữa bệnh có tính chất đặc thù:
Bên cạnh việc tiếp tục duy trì các hình thức tổ chức
hành nghề như hiện nay, để khắc phục các vướng mắc bất cập về cấp giấy phép
hoạt động đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân với dịch
vụ khám bệnh, chữa bệnh, Luật đã quy định:
- Cho phép
các tổ chức có tên gọi như cơ sở giám định y khoa, trung tâm y tế, viện nghiên
cứu có giường bệnh và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có tên gọi khác được cung
cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh nếu đáp ứng điều kiện theo quy định của Luật
này (Điều 48);
- Cho phép
phòng khám đa khoa tư nhân tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn,
đặc biệt khó khăn được tổ chức giường lưu để theo dõi và điều trị người bệnh
tối đa 72 giờ (Điều 77);
- Đổi mới về
phân cấp chuyên môn, theo đó hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được tổ chức
thành 3 cấp theo chuyên môn theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW; xác định mức
độ cung cấp dịch vụ của từng cấp đồng thời cho phép thực hiện khám bệnh, chữa
bệnh từ xa và kết hợp với sử dụng các công cụ về tài chính y tế như giá dịch vụ
khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm y tế để từng bước tăng khả năng tiếp cận với
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh ngay tại cơ sở, hạn chế việc người bệnh phải về
các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của trung ương để được chăm sóc sức khỏe như
hiện nay (Điều 104) .
- Bổ sung quy
định khám bệnh, chữa bệnh trong các trường hợp: Khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo,
không vì mục đích lợi nhuận, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám
bệnh, chữa bệnh; khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm
họa và dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp; Khám bệnh,
chữa bệnh bằng y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại
(Điều 88).
5. Về tăng cường phân cấp, phân quyền, cải cách thủ
tục hành chính trong khám bệnh, chữa bệnh
a) Thực hiện
việc tập trung đầu mối cấp, quản lý hoạt động của người hành nghề:
- Hội đồng Y khoa tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (Điều 24);
- Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý
người hành nghề, cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh giấy phép hành nghề
và đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề khi có sai phạm (Điều 28 và Điều 51).
b) Thực hiện
việc phân cấp về cấp giấy phép hành nghề cho người hành nghề và cấp giấy phép
hoạt động cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh(Điều 28 và Điều 51):
- Bộ Y tế cấp cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
trực thuộc Bộ Y tế;
- Bộ Quốc phòng cấp cho các cơ sở trực thuộc Bộ Quốc
phòng;
- Bộ Công an cấp cho các cơ sở trực thuộc Bộ Công
an;
- Sở Y tế cấp cho các cơ sở còn lại trên địa bàn,
bao gồm cả bệnh viện tư nhân và các cơ sở thuộc các Bộ, ngành khác, trừ các cơ
sở trực thuộc Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
c)Thực hiện phân
cấp thẩm quyền phê duyệt bổ sung danh mục kỹ thuật, cho phép áp dụng kỹ thuật
mới, phương pháp mới:Bộ Y tế chỉ thực hiện việc phê duyệt đối với các kỹ thuật
lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam.
Sau khi đã được Bộ Y tế cho phép thực hiện chính
thức, việc phê duyệt áp dụng kỹ thuật này tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
khác được thực hiện theo thủ tục điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh với thẩm quyền đã được phân cấp như đã nêu ở trên (Điều
93).
6. Về đổi mới một số quy định liên quan điều kiện
bảo đảm thực hiện cho hoạt động khám bệnh, chữa bệnh
a) Về hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
Bên cạnh việc tiếp tục duy trì hệ thống các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh của cả nhà nước và tư nhân như hiện nay, dự thảo Luật đã
bổ sung quy định chia hệ thống khám bệnh, chữa bệnh này thành 3 cấp (Điều 104),
bao gồm:
- Cấp khám
bệnh, chữa bệnh ban đầu thực hiện nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú, chăm
sóc sức khỏe ban đầu;
- Cấp khám
bệnh, chữa bệnh cơ bản thực hiện nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú, nội
trú tổng quát; đào tạo thực hành tổng quát;
- Cấp khám
bệnh, chữa bệnh chuyên sâu thực hiện nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú,
nội trú chuyên sâu; đào tạo thực hành chuyên sâu.
b) Về giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (Điều 110):
- Giá thành
toàn bộ của dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bao gồm các chi phí sau đây: Chi phí
nhân công bao gồm tiền lương, tiền công phù hợp với loại hình cung cấp dịch vụ,
các khoản đóng góp theo lương và các khoản phụ cấp theo quy định; Chi phí trực
tiếp bao gồm chi phí thuốc, hóa chất, máu, chế phẩm máu và chi phí nguyên liệu,
vật liệu, công cụ, dụng cụ, nhiên liệu, năng lượng sử dụng trong khám bệnh,
chữa bệnh và các khoản chi phí trực tiếp khác; Chi phí khấu hao thiết bị y tế,
tài sản cố định; Chi phí quản lý bao gồm chi phí duy tu, bảo dưỡng thiết bị y
tế, tài sản cố định, chi phí bảo vệ môi trường, kiểm soát nhiễm khuẩn, chi phí
đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ thông tin, chi phí mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp, chi phí quản lý chất lượng, lãi vay (nếu có) và các chi phí
khác có liên quan đến hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
- Việc định
giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm phù hợp với loại hình cung cấp dịch vụ
khám bệnh, chữa bệnh và bảo đảm các nguyên tắc: Bù đắp chi phí thực hiện khám
bệnh, chữa bệnh; Hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh và người bệnh; Rà soát các yếu tố hình thành giá để
điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp cần thiết.
- Việc định
giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh dựa trên các căn cứ: Yếu tố hình thành giá
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm định
giá; Quan hệ cung cầu của dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, khả năng chi trả của
người bệnh; Chủ trương, chính sách, pháp luật về tự chủ đối với đơn vị sự
nghiệp công lập trong từng thời kỳ, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế -
xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ theo lộ trình tính đúng, tính đủ giá
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
- Việc định
giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh dựa trên các căn cứ: Yếu tố hình thành giá
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm định
giá;Quan hệ cung cầu của dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, khả năng chi trả của
người bệnh;Chủ trương, chính sách, pháp luật về tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp
công lập trong từng thời kỳ, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của Nhà nước trong từng thời kỳ theo lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ
khám bệnh, chữa bệnh do Chính phủ quy định.
Việc thay đổi từ cách tiếp cận giá dịch vụ khám
bệnh, chữa bệnh bao gồm các nhóm yếu tố chi phí trực tiếp, tiền lương, chi phí
quản lý và khấu hao tài sản cố định sang cách tiếp cận giá dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh bao gồm các yếu tố phát sinh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh sau
đây: (1) Hàng hóa phục vụ cho việc khám bệnh, chữa bệnh như: thuốc, sinh phẩm, hóa
chất, vật tư y tế, trang thiết bị y tế và các hàng hóa khác; (2)dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh do các cơ sở và người hành nghề đủ điều kiện theo quy định của pháp
luật cung cấp; (3)Các chi phí khác có liên quan đến quá trình khám bệnh, chữa
bệnh.
Quy định như trên nhằm khuyến khích, thúc đẩy các cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tư để nâng cao khả năng cung cấp cũng như chất
lượng của dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
Việc xây dựng, quyết định giá dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.
c) Về bảo đảm
an ninh trật tự (Điều 114):Bổ sung một điều quy định về bảo đảm an ninh trật tự
cho người bệnh, người nhà người bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và an toàn cho
nhân viên y tế. Cụ thể:
- Thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo nguy cơ
gây mất an ninh cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và an toàn cho nhân viên y tế
tại các địa điểm khác dễ xảy ra xung đột giữa nhân viên y tế với người bệnh và
thân nhân của người bệnh;
- Ứng dụng các giải pháp công nghệ cao để quản lý
người bệnh, thân nhân của người bệnh, người hành nghề;
- Quy định người có hành vi xâm phạm thân thể, sức
khỏe, tính mạng hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhân viên y tế tùy theo
tính chất mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc hình sự theo quy định của
pháp luật.
TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH NĂM 2023 TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN
DÂN VIỆT NAM
I. NHỮNG NỘI DUNG LIÊN QUAN THEO QUYẾT ĐỊNH CỦA LUẬT KHÁM BỆNH, CHỮA BÊNH NĂM
2023 THUỘC PHẠM VI QUẢN LÝ CỦA BỘ QUỐC PHÒNG
Luật Khám bệnh, chữa bệnh số năm 2023 giao Chính phủ quy định chi tiết 44 khoản tại 44 Điều; trong đó có 15 khoản
liên quan đến người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, cụ thể:Khoản 3 Điều 23 (Thực hành khám bệnh, chữa bệnh); khoản 5 Điều 24 (Kiểm tra
đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh); khoản 6 Điều 30 (Cấp
mới giấy phép hành nghề); khoản 5 Điều 31 (Cấp lại giấy phép hành
nghề); khoản 6 Điều 32 (Gia hạn giấy phép hành nghề); khoản 5 Điều 33
(Điều chỉnh giấy phép hành nghề); khoản 4 Điều 34 (Đình chỉ hành nghề), khoản 3
Điều 35 (Thu hồi giấy phép hành nghề), khoản 5 Điều 50 (Giấy phép hoạt động của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh), khoản 5 Điều 52 (Cấp mới giấy phép hoạt động), khoản
4 Điều 53 (Cấp lại giấy phép hoạt động), khoản 5 Điều 54 (Điều chỉnh giấy phép
hoạt động), khoản 2 Điều 56 (Thu hồi giấy phép hoạt động cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh), khoản 7 Điều 58 (Đánh giá và chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh) và khoản 4 Điều 104 (Cấp chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh,
chữa bệnh) trong lực lượng vũ trang để phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2
Điều 5 (Quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh), điểm b khoản 1, điểm b khoản
2 Điều 28 (Thẩm quyền cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh giấy phép hành
nghề, đình chỉ hành nghề, thu hồi giấy phép hành nghề); khoản 2, khoản 3 Điều
51 (Thẩm quyền cấp mới, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, đình chỉ hoạt
động và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh) Luật
Khám bệnh, chữa bệnh.
Tại khoản 3 Điều 83 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tiêu chuẩn sức khỏe đặc thù và
việc khám sức khỏe cho đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý (khoản 3 Điều 83).
II. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ
HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Ngày 03/3/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 172/QĐ-TTg ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn
bản quy định chi tiết thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh, trong đó giao Bộ Quốc phòng chủ trì soạn thảo Nghị định về khám bệnh,
chữa bệnh cho các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và soạn thảo
Thông tư của Bộ Quốc phòng quy định tiêu chuẩn sức khỏe đặc thù và việc khám
sức khỏe đối với lực lượng Quân đội nhân dân.
1. Nghị định về khám bệnh, chữa bệnh cho các đối
tượng thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (Nghị định của Chính phủ về người
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực
lượng vũ trang nhân dân)
Thực hiện Quyết định số 172/QĐ-TTg, Bộ Quốc phòng đã
chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ; Bộ Y tế; Bộ
Tài chính; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tư pháp, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và một
số chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh; nghiên cứu,
xây dựng dự thảo Nghị định đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban
hành văn bản QPPL Nghị định gồm một số nội dung cơ bản sau:
a) Phạm vi điều chỉnh: Quy định về người hành nghề
khám bệnh, chữa bệnh; hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực
lượng vũ trang nhân dân; điều kiện hồ sơ, thủ tục cấp mới, cấp lại, điều chỉnh,
gia hạn, đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của người
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện, hồ sơ, thủ tục cấp mới, cấp lại,
điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy định cấp chuyên môn kỹ thuật khám bệnh, chữa
bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Đánh giá và chứng nhận chất lượng của các
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.
b) Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với sĩ quan, quân
nhân chuyên nghiệp, công nhân, công chức và viên chức quốc phòng; sĩ quan, hạ
sĩ quan công an nhân dân, công nhân viên công an; người lao động hợp đồng hành
nghề khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang
nhân dân, Ban Cơ yếu Chính phủ và các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan.
c) Về người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trên cơ
sở nghiên cứu nội dung quy định tại Điều 26 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023;
Nghị định đã quy định cụ thể đối tượng phải có Giấy phép hành nghề khám bệnh,
chữa bệnh; đồng thời, bổ sung quy định đối tượng hành nghề không cần giấy phép
hành nghề đối với “y tá”; lý do:
Y tá là thành phần trong tổ chức, biên chế cấp đại
đội, y tá có chức trách, nhiệm vụ là người trực tiếp theo dõi sức khỏe cán bộ,
học viên, chiến sĩ trong huấn luyện, luyện tập sẵn sàng chiến đẩu; trực tiếp
chăm sóc cán bộ, học viên, chiến sĩ ốm nghỉ tại đơn vị. Do đó, dự thảo Nghị
định bổ sung đối tượng này để bảo đảm cơ sở pháp lý trong hoạt động chăm sóc
sức khỏe bộ đội theo quy định của Luật.
d) Về hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Dự thảo Nghị định trên cơ sở quy định tại khoản 1
Điều 48 của Luật, kế thừa Nghị định số 50/2019/NĐ-CP và thực tiễn tại các đơn
vị thuộc Bộ Quốc phòng dự thảo Nghị định đã quy định cụ thể:
- Bổ sung phân viện (tương đương bệnh viện) cho phù
hợp với Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị về tổ chức Quân
đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số
230-NQ/QUTW ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo thực hiện tổ chức
Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo, Bộ Quốc
phòng đã giải thể, sáp nhập một số bệnh viện tuyến quân khu, theo đó mỗi quân
khu chỉ tổ chức một Bệnh viện, các bệnh viện thuộc quân khu còn lại thành “phân
viện” thuộc bệnh viện quân khu. Do đó, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quân sự,
quốc phòng và thực tiễn, việc bổ sung hình thức Phân viện là cần thiết.
- Bổ sung Tổ quân y, nguyên nhân: Thực hiện kế hoạch
tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số
230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, giải thể 100% bệnh xá của Bộ Chỉ huy Bộ đội
Biên phòng cấp tỉnh; nhiều bệnh xá Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh và bệnh xá một
số cơ quan, đơn vị để biên chế thành Tổ quân y có giường lưu, làm nhiệm vụ chăm
sóc sức khỏe ban đầu cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền và Nhân dân trên địa bàn
đóng quân. Do đó, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quân sự quốc phòng và thực tiễn,
việc bổ sung hình thức Tổ quân y là cần thiết.
- Bổ sung loại hình quân y, y tế cơ quan, đơn vị
gồm: Quân y, y tế cơ quan, đơn vị cấp tiểu đoàn; quân y, y tế các đơn vị có bố
trí bác sỹ, y sỹ, gồm: đại đội độc lập, đồn biên phòng, quân y tàu quân sự,
quân y đảo không có bệnh xá, kho, trạm, trận địa, nhà giàn DK; quân y cấp trực
thuộc Bộ Quốc phòng; quân y, y tế cơ quan trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn, học
viện, nhà trường, nhà máy, xí nghiệp, tổng công y, công ty.
đ) Để quản lý người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang trên môi trường điện tử
(thực hiện Điều 112 Luật Khám bệnh, chữa bệnh), Nghị định quy định 1 điều về cơ
sở dữ liệu về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong lực lượng vũ trang.
e) Về điều kiện cấp điều chỉnh giấy phép hành nghề
(Điều 11) và yêu cầu đối với văn bằng đào tạo chuyên khoa, chứng chỉ đào tạo
chuyên khoa (Điều 12): Bảo đảm sự phù hợp với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.
g) Về hồ sơ đề nghị và hình thức điều chỉnh giấy
phép hành nghề: Bảo đảm sự phù hợp với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực
lượng vũ trang nhân dân (Điều 13).
h) Về hồ sơ đề nghị cấp mới, cấp lại, điều chỉnh
giấy phép hành nghề; quản lý giấy phép hành nghề: Bảo đảm sự phù hợp với các cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; đồng thời bổ sung
nội dung quy định việc cho phép thực hiện các kỹ thuật chuyên môn thuộc chuyên
khoa khác với chuyên khoa mà người hành nghề đã được cấp ghi trong giấy phép
hành nghề(Điều 14, Điều 15).
i) Về điều kiện nguyên tắc hành nghề: Bảo đảm sự phù
hợp với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (Điều
16).
k) Về thời gian thực hành và kiểm tra đánh giá năng
lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.
Tại Quyết định số 172/QĐ-TTg, không giao cơ quan chủ
trì soạn thảo quy định chi tiết khoản 3 Điều 23, điểm 5 Điều 24 Luật Khám bệnh,
chữa bệnh.Tuy nhiên, do tổ chức, biên chế, bố trí lực lượng y tế của Quân đội
nhân dân và Công an nhân dân có tính chất đặc thù; đặc biệt là lực lượng quân
y; cụ thể: Cán bộ, nhân viên quân y tốt nghiệp đào tạo, khi ra trường sẽ được
phân công thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quân y tại các đơn vị trên nhiều tuyến,
nhiều khu vực trong toàn quốc; do yêu cầu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tổ chức
biên chế lực lượng Ngành Quân y phải bảo đảm phù hợp với tính cơ động cao, nhất
là các đơn vị vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo (các đồn biên phòng, bệnh xá
đảo, quân y nhà giàn…) ngoài nhiệm vụ thường xuyên, sẵn sàng chiến đấu, còn
thực hiện những nhiệm vụ đột xuất, nhiệm vụ quốc tế.
Việc tổ chức thực hành khám bệnh, chữa bệnh đối với
người hành nghề thuộc lực lượng vũ trang; tổ chức thi đánh giá năng lực hành
nghề khám bệnh, chữa bệnh để cấp giấy phép hành nghề cho người hành nghề thuộc
lực lượng vũ trang có tính chất đặc thù; vì vậy, Nghị định bổ sung nội dung quy
định việc tố chức thực hành khám bệnh, chữa bệnh thành 01 điều (Điều 17) và
kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thành 1 điều (Điều
18).
l) Về điều kiện, hồ sơ, thủ tục cấp mới, cấp lại,
điều chỉnh giấy phép hoạt động; thẩm quyền, hồ sơ, thẩm định, thủ tục cấp, cấp
lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Bảo đảm
sự phù hợp với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang nhân
dân.
m) Về thẩm quyền đình chỉ hoạt động chuyên môn của người
hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thẩm quyền, thủ tục thu hồi giấy phép
hành nghề, giấy phép hoạt động đối với người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh thuộc Bộ Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định; đối với người
hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Công an do Bộ trưởng Bộ Công
an quyết định. Nghị định bổ sung nội dung quy định về xử lý sau thu hồi giấy
phép hành nghề thành 01 điều (Điều 35).
n) Về phân cấp chuyên môn kỹ thuật của các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh: Thực hiện khoản 3 Điều 104 Luật, Nghị định quy định chi
tiết tiêu chí phân cấp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; giao Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ các tiêu chí, phương pháp đánh giá và mức
điểm theo từng tiêu chí của Bộ Y tế, quy định phân cấp, chuyển cấp cung cấp
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và chỉ đạo, hỗ trợ giữa các cấp chuyên môn kỹ
thuật của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang nhân dân
(Điều 37).
o) Về đánh giá và chứng nhận chất lượng cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh thực hiện khoản 2 Điều 58 Luật: Căn cứ hướng dẫn, tiêu chuẩn
của Bộ Y tế và đặc thù hoạt động quốc phòng - an ninh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,
Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc tổ chức đánh giá và chứng nhân chất lượng
các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 38).
p) Về quy định về lộ trình thực hiện và chuyển tiếp
(từ Điều 39 đến Điều 53): Để bảo đảm sự thống nhất trong chỉ đạo, phù hợp với
Nghị định quy định chi tiết Luật Khám bệnh, chữa bệnh do Bộ Y tế chủ trì soạn
thảo; cụ thể:
- Quy định chuyển tiếp đối với việc thực hành và
chuyển đổi giấy phép hành nghề cho người hành nghề đã được cấp chứng chỉ hành
nghề theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 (Điều 39); quy
định chuyển tiếp đối với giấy phép hoạt động (Điều 40).
- Đối với các trường hợp cấp mới, cấp lại, gia hạn,
điều chỉnh giấy phép hành nghề trong giai đoạn chuyển tiếp thực hiện theo quy
định tại Điều 7 Nghị định này (Điều 42).
- Quy định điều kiện văn bằng, chứng chỉ và thực
hành để cấp mới giấy phép hành nghề trong giai đoạn chuyển tiếp đối với chức
danh chuyên môn là bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dinh dưỡng
lâm sàng, tâm lý lâm sàng (Điều 43).
- Điều kiện về thực hành khám bệnh, chữa bệnh để cấp
mới giấy phép hành nghề trong giai đoạn chuyển tiếp (Điều 44).
- Hồ sơ đề nghị cấp mới, cấp lại, gia hạn giấy phép
hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trong giai đoạn chuyển
tiếp (Điều 41, Điều 45 và Điều 46).
- Điều kiện, hồ sơ cấp điều chỉnh giấy phép hành
nghề trong giai đoạn chuyển tiếp đối với chức danh chuyên môn là bác sỹ; trường
hợp, điều kiện, hồ sơ cấp điều chỉnh giấy phép hành nghề trong giai đoạn chuyển
tiếp đối với chức danh chuyên môn là bác sỹ kỹ thuật y (Điều 47 và Điều 48).
- Trình tự cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh
giấy phép hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trong giai
đoạn chuyển tiếp (Điều 49).
- Đình chỉ và xử lý sau đình chỉ giấy phép hành nghề
trong giai đoạn chuyển tiếp (Điều 50).
- Thu hồi và xử lý sau thu hồi giấy phép hành nghề
trong giai đoạn chuyển tiếp (Điều 51).
q) Quy định về phân cấp chuyên môn kỹ thuật trong
giai đoạn chuyển tiếp: dư thảo Nghị định quy định việc xếp cấp chuyên môn kỹ
thuật đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang hoạt động theo giấy phép hoạt
động theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 và các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12, để các cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh tiếp tục hoạt động trong giai đoạn chuyển tiếp. Các cơ sở này
phải hoàn thành việc đánh giá, xếp cấp chuyên môn kỹ thuật theo quy định tại
Nghị định này trước ngày 01 tháng 01 năm 2027 (Điều 52).
r) Quy định chuyển tiếp liên quan đến hệ thống thông
tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh: Để thực hiện việc đăng tải các
tài liệu hồ sơ, thông tin, thông báo, danh sách người hành nghề khám bệnh, chữa
bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 53).
2. Thông tư số 105/2023/TT-BQP ngày 06/12/2023
của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tiêu chuẩn sức khỏe, khám sức khỏe cho các
đối tượng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng; có hiệu lực từ ngày
01/01/2024
a) Bố cục và nội
dung cơ bản của Thông tư số 105/2023/TT-BQP
- Bố cục:
Thông tư gồm 5 chương, 34 điều và 6 phụ lục kèm
theo, cụ thể:
+ Chương
I: Quy định chung gồm 3 điều từ Điều 1 đến Điều 3 ;
+ Chương II: Tiêu chuẩn và phân loại sức khỏe
gồm 3 điều từ Điều 4 đến Điều 6;
+ Chương
III: Khám sức khỏe và kinh phí bảo đảm gồm 5 mục 16 điều từ Điều 7 đến Điều 22
;
+ Chương
IV: Trách nhiệm thực hiện gồm 8 điều từ Điều 23 đến Điều 30;
+ Chương
V: Điều khoản thi hành gồm 4 điều từ Điều 31 đến Điều 34.
- Nội dung cơ
bản
+Tên Thông tư: “Thông tư quy
định tiêu chuẩn sức khỏe, khám sức khỏe cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý
của Bộ Quốc phòng”.
+Phạm vi điều chỉnh: Thông tư quy định tiêu chuẩn sức khỏe,
khám sức khỏe cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, gồm:
Tiêu chuẩn và phân loại khám sức khỏe; khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự;quản lý và kiểm tra sức khỏe quân nhân dự bị; khám sức khỏe tuyển sinh quân sự; khám sức khỏe tuyển dụng vào đội ngũ cán bộ; đào tạo sĩ quan dự bị gọi vào
phục vụ tại ngũ; tuyển dụng quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức
quốc phòng; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong
khám sức khỏe cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng.
Thông tư không điều
chỉnh quy định tiêu chuẩn sức khỏe và khám tuyển, giám định sức khỏe phi công
quân sự, thủy thủ tàu ngầm, lực lượng dù, lực lượng đổ bộ đường không.
Về tiêu chuẩn sức
khỏe, khám sức khỏe định kỳ, khám sức khỏe theo yêu cầu nhiệm vụ đối với sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ; công chức quốc
phòng, công nhân và viên chức quốc phòng thực hiện theo Thông tư số
37/2021/TT-BQP ngày 15/4/2021 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định phân loại,
khám sức khỏe, phân cấp nhiệm vụ quản lý sức khỏe đối với quân nhân, công chức
quốc phòng, công nhân và viên chức quốc phòng
+Tiêu chuẩn sức
khỏe: Kế thừa tiêu chuẩn sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Thông tư
số 148/2018/TT-BQP; tiêu chuẩn sức khỏe tuyển sinh quân
sự tại Thông tư số 31/2023/TT-BQP; tiêu chuẩn sức khỏe tuyển dụng vào đội ngũ
cán bộ; đào tạo sĩ quan dự bị gọi vào phục vụ tại ngũ; tuyển dụng quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng tại Thông tư 308/2017/TT-BQP và Thông tư số 241/2017/TT-BQP (Điều 4); đồng
thời, sửa đổi tiêu chuẩn thực hiện nghĩa vụ quân sự đối với trường hợp nghiện
ma túy, nhiễm HIV/AIDS loại bằng cách chấm điểm 6 để loại không đủ tiêu chuẩn
sức khỏe; bỏ quy định không gọi thực hiện nghĩa vụ quân sự nhiễm HIV/AIDS để
phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 về hạn chế quyền
con người chỉ được quy định ở luật.
+Khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự kế thừa
quy định về sơ tuyển, khám sức khỏe, phúc tra và giám định sức khỏe tại dự thảo
Thông tư kế thừa các quy định còn phù hợp tại Thông tư liên tịch số 16/2016/TTLT-BYT-BQP và bổ sung: (1) Quy định giám định sức khỏe
sau khám phúc tra sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Bệnh viện quân y;
(2) Bổ sung khám sàng lọc tâm thần, điện tim, chụp X-quang tim phổi thẳng, siêu âm ổ
bụng tổng quát và các xét nghiệm: Công thức máu; nhóm máu (ABO); chức năng gan
(AST, ALT); chức năng thận (Ure, Creatinine); đường máu; virus viêm gan B
(HBsAg); virus viêm gan C (Anti-HCV); HIV; nước tiểu toàn bộ (10 thông số); xét
nghiệm nước tiểu phát hiện một hay nhiều loại ma túy. Chỉ thực hiện các xét
nghiệm máu, nước tiểu, HIV, ma túy cho công dân đạt tiêu chuẩn sức khỏe sau
khám lâm sàng, siêu âm, điện tim, chụp X-quang tim phổi thẳng. Nội dung này cần
quy định chi tiết nhằm mục đích phân loại đúng sức khỏe công dân nhập ngũ,
thống nhất nội dung khám sức khỏe tại địa phương và khám phúc tra sức khỏe tại
đơn vị nhận quân trong thực hiện nghĩa vụ quân sự; đánh giá đúng tình trạng sức
khỏe công dân nhập ngũ; hạn chế tối đa các nguy cơ tự tử, đột tử, tử vong diễn
biến nhanh,... của chiến sĩ trong thời gian phục vụ tại ngũ.
+Khám sơ tuyển sức khỏe, khám sức khỏe, giám định
sức khỏe tuyển sinh quân sự việc tổ chức và triển khai các Hội đồng khám sức
khỏe tuyển sinh (Điều 16, 17, 18): (1) Cơ bản kế thừa quy định tại Thông tư liên tịch số
16/2016/TTLT-BYT-BQP và quy định chi tiết về thành lập, hoạt động của Hội đồng
khám sơ tuyển sức khỏe, khám sức khỏe, giám định sức khỏe; (2) Bổ sung Hội đồng
khám nghĩa vụ quân sự địa phương được khám sơ tuyển cho quân nhân đóng quân
trên địa bàn; Hội đồng khám sức khỏe
bệnh viện quân y khám sơ tuyển cho thí sinh là thanh niên ngoài
Quân đội trên địa bàn hoặc quân nhân các đơn vị đóng quân trên địa bàn hoặc
thuộc tuyến để đảm bảo thuận lợi cho thí sinh trong khám sơ tuyển tuyển sinh
quân sự.
+Khám phúc tra sức khỏe, giám định sức khỏe trong tuyển dụng
cán bộ; đào tạo sĩ quan dự bị phục vụ tại ngũ; tuyển dụng quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng (Điều 19) và giám định sức khỏe tuyển
dụng, đào tạo sĩ quan dự bị (Điều 20).
Bổ sung quy định chi tiết về thành lập và hoạt động
Hội đồng khám phúc tra sức khỏe, giám định sức khỏe cho các bệnh viện quân y để
đảm bảo kết luận chính xác tình trạng sức khỏe, hạn chế xảy ra khiếu nại sức
khỏe trong tuyển dụng, đào tạo sĩ quan dự bị.
+Định mức vật tư
tiêu hao và kinh phí khám sức khỏe (Điều 21, 22): (1) Định mức vật tư tiêu hao và chi phí cho hoạt động
khám sức khỏe cho các đối tượng kế thừa quy định tại Thông tư liên tịch số
16/2016/TTLT-BYT-BQP và quy định hiện nay của Bộ Y tế; (2) Nguồn kinh phí
bảo đảm bổ sung nội dung các xét nghiệm bổ sung tại điểm d khoản này; xác định
kinh phí bảo đảm hoạt động khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự ở địa phương, kiểm
tra sức khỏe quân nhân dự bị thực hiện theo quy định tại Điều 53 Luật Nghĩa vụ
quân sự năm 2015.
Kinh phí bảo đảm hoạt động khám phúc tra, giám định
sau phúc tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự; khám sơ tuyển và khám sức
khỏe tuyển sinh quân sự; khám phúc tra, giám định sức khỏe trong tuyển
dụng vào đội ngũ cán bộ, đào tạo sĩ quan dự bị gọi vào phục vụ tại ngũ, tuyển
dụng quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng do ngân
sách nhà nước chi thường xuyên cho quốc phòng bảo đảm. Hạch toán vào Mục
7000; Tiểu mục 7001; Tiết mục 10 (Thuốc và bông băng), Tiết mục 30 (Dụng cụ),
Tiết mục 90 (khác); Ngành 53.
Tổng kinh phí cho khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ
quân sự hằng năm tăng thêm khoảng 326 tỉ đồng, trong đó ngân sách địa phương tăng 202 tỉ đồng; ngân sách nhà nước chi
thường xuyên cho quốc phòng tăng 124 tỉ đồng.
-Trách nhiệm thực hiện: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục
Chính trị, Tổng cục Hậu cần, các đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng phối
hợp với Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, đơn vị Quân đội trong chỉ đạo, tổ
chức thực hiện Thông tư(từ Điều 23 đến Điều 30), các nội dung quy định được kế
thừa các quy định tại Thông tư liên tịch số 16/2016/TTLT-BYT-BQP và theo chức năng,
nhiệm vụ quả từng cơ quan, đơn vị. Cụ thể:
+ Bộ Tổng Tham mưu (Điều 23): Phối hợp với
Bộ Y tế chỉ đạo cơ quan quân sự các cấp phối hợp
cơ quan y tế địa phương lập kế hoạch và triển khai khám sức khỏe thực hiện
nghĩa vụ quân sự theo quy định;giao Cục Quân
lực, Cục Nhà trường, Cục Dân quân tự vệ chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện quy định về tiêu chuẩn sức khỏe, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự;
tuyển sinh quân sự; tuyển dụng quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức
quốc phòng.
+ Tổng cục Chính trị (Điều 24): Giao Cục
Cán bộ chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện quy định
về tiêu chuẩn sức khỏe, khám sức khỏe tuyển sinh quân sự, tuyển dụng vào đội
ngũ cán bộ, đào tạo sĩ quan dự bị gọi vào phục vụ tại ngũ; Cục Tuyên
huấn chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện công
tác tuyên truyền sâu rộng về tiêu chuẩn sức khỏe và khám sức khỏe cho các đối
tượng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng.
+ Tổng cục Hậu cần (Điều 25):
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị Tham mưu
với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế tiêu chuẩn sức khỏe
và khám sức khỏe cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng nếu
trong quá trình triển khai Thông tư này gặp các khó khăn, vướng mắc cần giải
quyết.
Chỉ đạo Cục Quân y:
Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện quy định về tiêu
chuẩn sức khỏe, triển khai khám sức khỏe, khám phúc tra sức khỏe, giám định sức
khỏe toàn quân; theo dõi, kiểm tra việc thực hiện tiêu chuẩn sức khỏe, khám sức
khỏe, khám phúc tra sức khỏe, giám định sức khỏe ở các cơ quan, đơn vị quân y
trong công tác quản lý sức khỏe đối với quân nhân, công chức quốc phòng, công
nhân và viên chức quốc phòng;sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện khám sức khỏe
cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng và kịp thời báo cáo
các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện, đề xuất phương án
giải quyết.
+ Nhiệm vụ của các Quân khu và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà
Nội (Điều 26) ; các cơ quan, đơn vị khác trực thuộc Bộ Quốc phòng (Điều 27);
các học viện, trường trong Quân đội (Điều 28); các bệnh viện quân y (Điều 29)
+ Nhiệm vụ của Cục Tài chính (Điều 30): Tổng hợp,
thẩm định kinh phí khám sức khỏe theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Thông tư
này, báo cáo Bộ Quốc phòng bảo đảm cho các cơ quan, đơn vị để quản lý, sử dụng
và quyết toán theo quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng.
- Điều khoản chuyển
tiếp (Điều 32):
+ Kết quả sơ tuyển sức khỏe, khám sức khỏe, khám
phúc tra sức khỏe và giám định sức khỏe trước ngày Thông tư này có hiệu lực thì
tiếp tục thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 16/2016/TTLT-BYT-BQP
ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng quy định việc khám sức
khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.
+ Việc sơ tuyển sức khỏe, khám sức khỏe, khám phúc
tra sức khỏe và giám định sức khỏe sau ngày Thông tư này có hiệu lực thì thực
hiện theo quy định tại Thông tư.
KẾT LUẬN
Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 sau khi
được ban hành sẽ thể chế hóa được
quan điểm của Đảng về công tác khám bệnh, chữa bệnh tại Nghị quyết số 20-NQ/TW. Từng bước chuẩn
hóa chất lượng cung cấp dịch vụ, tối ưu hóa việc đầu tư phát triển chuyên môn
kỹ thuật có trọng tâm, trọng điểm, có quy hoạch tránh dàn trải, phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ của từng cấp chuyên môn trong điều kiện nguồn lực còn hạn
chế, cụ thể là những kỹ thuật cơ bản, mang tính phổ biến phải được cung ứng
dịch vụ ngay tại cấp cơ bản và cấp ban đầu, tăng khả năng tiếp cận của người
dân ngay trên địa bàn, hạn chế phải chuyển lên bệnh viện tuyến cuối gây tốn kém
và quá tải bệnh viện tuyến cuối.Bảo đảm tính liên thông, liên tục về khám bệnh,
chữa bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, theo đó việc chuyển người bệnh
giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực kỹ thuật
và phạm vi hoạt động chuyên môn, không lệ thuộc vào cấp hành chính.Khắc phục
được các tồn tại, bất cập của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 và tạo hành
lang pháp lý thuận lợi, minh bạch cho việc triển khai các hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh trong và ngoài Quân đội./.

0 Nhận xét