NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

     (Chuyên đề đã được thông qua Tổ tư vấn pháp luật Tòa án quân sự Quân khu 2)

Phần thứ nhất

SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Sau 13 năm thi hành, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đã bộc lộ những hạn chế vướng mắc, bất cập, cụ thể:

1. Tình trạng mất trật tự, an toàn giao thông còn cao

1.1. Tình hình trật tự, an toàn giao thông của cả nước

Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 09 tháng vừa được Tổng cục Thống kê công bố, về tình hình an toàn giao thông, tính chung 09 tháng năm 2024 trên địa bàn cả nước đã xảy ra 17.629 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.045 người, bị thương 13.167 người[1]. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 7,2%; số người chết giảm 9,7%; số người bị thương tăng 17,4%.

Bình quân một ngày trong 09 tháng năm 2024, trên địa bàn cả nước xảy ra 64 vụ tai nạn giao thông, làm chết 29 người, bị thương 48 người.

Tính riêng trong tháng 09 (từ 26/8/2024- 25/9/2024), cả nước đã xảy ra 1.760 vụ tai nạn giao thông, làm chết 906 người và bị thương 1.252 người.

Trong 09 tháng, lực lượng cảnh sát giao thông (CSGT) toàn quốc đã kiểm tra, xử lý hơn 03 triệu trường hợp vi phạm trật tự ATGT trên đường bộ, đường sắt và đường thủy, phạt tiền gần 6.000 tỷ đồng; tước 600.000 GPLX, bằng, chứng chỉ chuyên môn; tạm giữ khoảng 01 triệu phương tiện các loại[2].

Tình trạng đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng, gây rối, thanh thiếu niên tụ tập chạy xe phóng nhanh, lạng lách, gây mất trật tự công cộng và đua xe trái phép tại một số địa phương diễn biến phức tạp, xuất hiện nhiều phương tiện độ chế tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông. Năm 2024 lực lượng chức năng đã phát hiện 165 vụ với 2.220 đối tượng có hành vi điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chạy xe thành đoàn với tốc độ cao, có dấu hiệu đua xe trái phép, gây rối trật tự công cộng, tạm giữ 1.762 phương tiện. Đã xử lý hình sự 46 vụ với 286 đối tượng. So với cùng kỳ năm 2023, tăng 47 vụ (+36,6%).

Ngoài ra trong 7 ngày đầu năm 2024 nghỉ Tết Giáp Thìn, toàn quốc xảy ra 541 vụ TNGT, làm chết 214 người và 504 người bị thương. So với cùng kỳ Tết năm 2023, tăng 83 vụ, giảm 69 người chết, tăng 177 người bị thương. Tính riêng trong ngày 14/2 (mùng 5 Tết), toàn quốc xảy ra 75 vụ TNGT đường bộ, làm chết 27 người và 69 người bị thương. So với ngày 13/2/2024, giảm 20 vụ, giảm 7 người chết, 18 người bị thương.

Trong 04 ngày nghỉ lễ 30/4 -1/5, cả nước xảy ra 277 vụ tai nạn giao thông, làm chết 109 người và làm bị thương 236 người. Tính riêng ngày 30/4, toàn quốc xảy ra 61 vụ tai nạn giao thông, làm chết 27 người, bị thương 45 người. Tất cả các vụ tai nạn này đều xảy ra trên đường bộ, các tuyến giao thông đường sắt và đường thủy không xảy ra tai nạn.

Một trong những điểm nhấn đáng chú ý nhất về tình hình giao thông trong các đợt nghỉ lễ, tết vừa qua là hiệu quả từ công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm giao thông, đặc biệt là vi phạm nồng độ cồn. Lực lượng công an các địa phương đã phát hiện và xử lý kiên quyết các trường hợp vi phạm.

Với kết quả trên 09 tháng đầu năm 2024, tình hình vi phạm TTATGT trên cả nước về cơ bản được đảm bảo tốt, số vụ và số người tử vong do tai nạn giao thông giảm so với cùng kỳ năm 2023. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo đảm TTATGT năm 2024 vẫn còn một số tồn tại, hạn chế là: Còn xảy ra một số vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, làm chết và bị thương nhiều người, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Điển hình, vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng tại cầu Sông Giêng trên quốc lộ (QL1), thuộc xã Tân Đức, H. Hàm Tân, Bình Thuận khiến ít nhất 08 người tử vong và 07 người khác bị thương; vụ tai nạn ở huyện Núi Thành làm 10 người chết; vụ tai nạn tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, Hà Nội làm 4 mẹ con tử vong tại chỗ và 01 người khác bị thương…

Nguyên nhân xảy ra TNGT đường bộ chủ yếu tập trung vào các hành vi của người điều khiển phương tiện như: Đi không đúng chiều đường, phần đường, làn đường quy định; không chú ý quan sát; chuyển hướng không đúng quy định. Không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước; vượt xe khi không đảm bảo an toàn; vi phạm tốc độ; không chấp hành quy định về nhường đường; sử dụng rượu, bia, tình trạng tụ tập, có dấu hiệu đua xe trái phép vẫn còn xảy ra tại một số tỉnh, thành phố. Tình trạng xe ô tô tải không thực hiện nghiêm quy định về xếp hàng hoá, gây mất an toàn giao thông chưa được xử lý triệt để; tình trạng ùn tắc giao thông có xu hướng gia tăng tại các đô thị lớn... Qua đó cho thấy hiệu lực thực thi pháp luật về TTATGT ở một số địa phương còn hạn chế; ý thức chấp hành các quy định pháp luật về TTATGT của một bộ phận người tham gia giao thông, lái xe và chủ doanh nghiệp còn yếu kém. Cấp uỷ, chính quyền và lực lượng chức năng ở một số địa phương còn thiếu quyết liệt trong chỉ đạo, có nơi ỷ lại hoàn toàn vào lực lượng chức năng.

1.2. Tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong Quân đội

Trong 09 tháng đầu năm 2024, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Chính phủ và chỉ đạo của Uỷ ban ATGTQG về công tác bảo đảm TTATGT; đặc biệt là trong các dịp lễ, tết. Đã tập trung đẩy mạnh, đa dạng hóa hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức chấp hành của quân nhân, CNVCQP và người lao động trong toàn quân.

- Toàn quân xảy ra 86 vụ/66 lượt người mất an toàn khi tham gia giao thông. Đối với các vụ TNGT phương tiện cá nhân, kết quả phân tích cho thấy: Về đối tượng xảy ra tai nạn: Sĩ quan: 56 người (chiếm 84,8%); QNCN: 07 người (chiếm 10,6%); hạ sĩ quan, chiến sĩ: 02 người (chiếm 3,03%), CNVQP: 01 người (chiếm 1,57%).

- Số vụ TNGT xe ô tô quân sự tăng so với cùng kỳ năm 2023, các vụ tai nạn này xảy ra do nguyên nhân chủ quan còn cao (09 vụ); một số đơn vị còn để xảy ra TNGT nghiêm trọng; qua phân tích các vụ TNGT xe ô tô quân sự, nguyên nhân chủ quan chủ yếu là do trình độ, kỹ năng điều khiển phương tiện của lái xe còn hạn chế; tâm lý chủ quan, chấp hành các quy định trong sử dụng, điều khiển phương tiện chưa nghiêm.

Công tác kiểm tra, quản lý phương tiện và người điều khiển phương tiện cá nhân của một số cơ quan, đơn vị còn thiếu chặt chẽ; TNGT do điều khiển phương tiện cá nhân là nguyên nhân chính gây ra số người tử vong và bị thương, trong đó: Tự ngã, tự đâm, va chiếm tỉ lệ cao (chiếm trên 90% số vụ TNGT nguyên nhân chủ quan).

Tình hình vi phạm TTATGT do điều khiển phương tiện cá nhân: Số trường hợp vi phạm quy định của pháp luật về nồng độ cồn trong khí thở khi điều khiển phương tiện cá nhân tham gia giao thông 14 vụ/14 lượt người. Trong đó, Sĩ quan: 08 người (chiếm 57,14%); QNCN: 05 người (chiếm 35,8%); LĐHĐ: 01 người (chiếm 7,15%); có 02 trường hợp người điều khiển phương tiện cá nhân không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn của lực lượng chức năng (Trường Sỹ quan Không quân/QC PK-KQ, Cục Hậu cần/QK1), 01 trường hợp điều khiển xe ô tô cá nhân gây TNGT do sử dụng rượu, bia (BCHQS tỉnh Gia Lai/QK5), ảnh hưởng xấu đến hình ảnh Quân đội.

* Đối với LLVT Quân khu 2 nói riêng, trong 09 tháng đầu năm 2024, các vụ việc do tai nạn giao thông xảy ra chiếm: 03 vụ/02 quân nhân (trong đó 01 SQ; 01 QNCN)[3]. Nguyên nhân dẫn đến các vụ TNGT là do lỗi người điều khiển phương không đi đúng phần đường quy định; không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách (01 trường hợp); không làm chủ được tốc độ, không chú ý quan sát (01 trường hợp). Tai nạn giao thông do lỗi khách quan (01 trường hợp).

Như vậy, 09 tháng đầu năm 2024, tình hình vi phạm TTATGT đường bộ trong Quân đội nói chung và LLVT QK vẫn còn cao. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do lỗi của người điều khiển phương tiện; ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về TTATGT của một số quân nhân vẫn chưa nghiêm. Cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị chưa thường xuyên quán triệt, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ các quy định pháp luật về GTĐB cho bộ đội; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục (TTPBGD) pháp luật về TTATGT và các kỹ năng tham gia giao thông an toàn của một số cơ quan, đơn vị còn hạn chế; hình thức TTPBGD chưa sinh động và phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị; chưa thường xuyên gắn hoạt động tuyên truyền với công tác giáo dục chính trị, quản lý, rèn luyện kỷ luật, nên hiệu quả chưa cao; chưa thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra trình độ, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ lái xe ô tô quân sự (mới chỉ tập trung vào công tác kiểm tra theo kế hoạch).

Một số cơ quan, đơn vị chưa có giải pháp quản lý chặt chẽ con người và phương tiện cá nhân trong đơn vị, đặc biệt là trong các giờ nghỉ, ngày nghỉ; chưa thường xuyên kiểm tra, nắm bắt tình trạng tâm lý, sức khỏe của người điều khiển phương tiện trước khi tham gia giao thông; chiến sĩ khi được về phép tham gia giao thông khi đã sử dụng rượu, bia; xử lý chưa nghiêm, kịp thời các trường hợp vi phạm TTATGT, gây TNGT hoặc không xử lý các trường hợp vi phạm ít nghiêm trọng để răn đe, giáo dục cho mọi người trong cơ quan, đơn vị.

Chính vì vậy, để góp phần bảo đảm trật tự ATGT, ngoài việc nâng cao công tác quản lý, giáo dục quân nhân tại các cơ quan, đơn vị, còn đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự ý thức trong việc tham gia giao thông; nắm chắc và nghiêm chỉnh chấp hành Luật GTĐB.

2. Hạn chế về phân định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước

Việc phân định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chức năng về bảo đảm TTATGTĐB thiếu rõ ràng, chưa rành mạch dẫn đến quá trình thực hiện còn chồng chéo, thiếu nhất quán, đồng bộ, nhất là giữa cơ quan quản lý nhà nước về an ninh, trật tự và cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng, kinh tế, kỹ thuật.

Theo thống kê, phân tích của cơ quan chức năng cho thấy tai nạn giao thông do 3 nguyên nhân chính, gồm người điều khiển phương tiện tham gia giao thông vi phạm luật; phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật; đường sá không bảo đảm an toàn kỹ thuật, tổ chức giao thông bất hợp lý. 

Hiện nay, người điều khiển phương tiện, hoạt động vận tải, chất lượng an toàn kỹ thuật phương tiện và đường sá do cơ quan về kinh tế - kỹ thuật quản lý, nhưng không có chức năng bảo đảm an ninh, an toàn. Trong khi đó, cơ quan có chức năng bảo đảm an ninh, an toàn lại không quản lý các nội dung này, dẫn đến việc phòng ngừa tai nạn giao thông khó đạt hiệu quả mong muốn. 

Thực tế hiện nay cho thấy, trong nhiều vụ tai nạn giao thông, trách nhiệm chủ yếu thuộc về người lái xe gây tai nạn mà chưa xác định được trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước.

3. Hạn chế trong quản lý hoạt động vận tải đường bộ

Các loại hình kinh doanh vận tải chưa được phân định rõ ràng, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, quy định về điều kiện kinh doanh trong đó có các thiết bị quan trọng như giám sát hành trình, camera hành trình chưa rõ ràng dẫn đến hiệu quả quản lý hạn chế. 

Đồng thời Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cũng chưa có quy định cụ thể trách nhiệm khác của đơn vị kinh doanh vận tải khi thực hiện không đúng các yêu cầu về kinh doanh và điều kiện kinh doanh dẫn đến tai nạn giao thông. 

Kinh doanh vận tải là kinh doanh có điều kiện nhưng Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định chưa rõ, chưa đủ cơ chế, chính sách để phát triển tương xứng với nhu cầu xã hội và phòng ngừa tai nạn giao thông.

4. Tình trạng ùn tắc giao thông

Vấn đề ùn tắc giao thông diễn biến phức tạp, gây ra những thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống của nhân dân, tác động không tốt đến môi trường du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài và hình ảnh của Việt Nam đối với bạn bè quốc tế.

Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được xây dựng và ban hành trong bối cảnh hệ thống hạ tầng GTĐB còn hạn chế, phương tiện chủ yếu là môtô, xe gắn máy; Vấn đề về chính sách về quy hoạch đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, vận hành bảo trì, quản lý vận tải đường bộ tuy đã được quy định trong luật nhưng chưa đầy đủ và cụ thể, như cơ chế thu hút nguồn lực đầu tư, cơ chế về vốn, về bảo trì, bảo dưỡng kết cấu hạ tầng...  dẫn tới khi đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng thực hiện các dự án đầu tư hạ tầng GTĐB gặp nhiều khó khăn về cơ sở pháp lý.

Thực tiễn trên đòi hỏi phải xây dựng luật GTĐB mới. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là, nếu xây dựng luật mới thì có thể khắc phục được tất cả các hạn chế trên hay không? Đó là khắc phục tình trạng mất trật tự an toàn GTĐB và hạn chế trong việc phát triển hạ tầng GTĐB; vận tải đường bộ; trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các vấn đề trên.

Nghiên cứu, tham khảo pháp luật của nhiều quốc gia, cho thấy không có quốc gia nào ban hành luật GTĐB bao gồm cả 03 lĩnh vực an toàn giao thông, kết cấu hạ tầng và vận tải đường bộ mà xây dựng luật riêng điều chỉnh từng lĩnh vực trên; thậm chí có quốc gia còn xây dựng luật riêng về đường bộ cao tốc, luật riêng về vận tải đường bộ.

Có thể thấy, nếu tiếp tục kết cấu trong một luật như hiện nay thì không thể quy định được đầy đủ, rõ ràng và khó có sự liên kết chặt chẽ giữa các nội dung, chế định của từng lĩnh vực hoặc nội dung quá lớn mà cần phải xây dựng các luật chuyên ngành để điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể; trong đó xây dựng Luật trật tự an toàn GTĐB để xây dựng thói quen, ý thức tự giác và hình thành văn hóa giao thông hiện đại; xây dựng Luật Đường bộ để phát triển hạ tầng giao thông, quản lý vận tải, thích ứng với sự thay đổi, phát triển nhanh của kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật, hướng tới phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, vận tải hiện đại, đồng bộ, chất lượng.

Từ các lý do trên có thể thấy, việc tách Luật Giao thông đường bộ năm 2008 thành Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ và Luật Đường bộ là đòi hỏi tất yếu, khách quan và cấp bách của thực tiễn.

Ngày 27/6/2024, cùng với Luật Đường bộ thì Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 đã được Quốc hội khoá XV thông qua tại kỳ họp thứ 7, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025. Luật có 9 chương, 89 điều.


 Phần thứ hai
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
 

1.     MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG

1.1. Phạm vi điều chỉnh

Luật quy định về quy tắc, phương tiện, người tham gia GTĐB, chỉ huy, điều khiển, tuần tra, kiểm soát, giải quyết tai nạn GTĐB, trách nhiệm quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến trật tự, an toàn GTĐB.

1.2. Giải thích một số từ ngữ trong luật

Phương tiện GTĐB gồm: xe cơ giới (ô tô, máy kéo, mô tô, xe gắn máy, kể cả xe máy điện...), xe thô sơ (xe đạp, kể cả xe đạp máy, xích lô, xe lăn, xe súc vật kéo), xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự.

Phương tiện tham gia GTĐB là phương tiện GTĐB (tức là những loại xe trên) tham gia giao thông trên đường bộ.

Đường ưu tiên là đường mà trên đó phương tiện tham gia giao thông đường bộ được các phương tiện tham gia GTĐB đến từ hướng khác nhường đường khi qua nơi đường giao nhau, được cắm biển báo hiệu đường ưu tiên.

Đây là nội dung cần chú ý. Biển báo hiệu đường ưu tiên là biển hình tam giác, màu vàng, viền bên ngoài màu đỏ. Khi gặp biển này, chúng ta phải giảm tốc độ, nhường đường cho phương tiện đang lưu thông trên đường ưu tiên. Tại sao phải chú ý, vì nếu chúng ta không nhường đường, khi xảy ra va chạm thì lỗi sẽ thuộc về người đi từ đường không ưu tiên ra.

Tuy nhiên, không phải cứ ở trên đường ưu tiên thì muốn đi thế nào cũng được. Thực tế giải quyết các vụ án giao thông, người đang ở trên đường ưu tiên mà gặp phương tiện đi từ đường không ưu tiên ra mà không giảm tốc độ, đâm vào phương tiện đi từ đường không ưu tiên ra thì cũng có lỗi, và vẫn bị xử lý.

Cải tạo xe là việc thay đổi đặc điểm của xe đã được cấp đăng ký xe, biển số xe hoặc xe đã qua sử dụng được nhập khẩu dẫn đến thay đổi về kiểu loại xe theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 70/ TT- BQP (14/10/2024) quy định về cải tạo xe cơ giới, xe máy chuyên dùng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng trong đó quy định cụ thể thế nào là xe cơ giới, xe con, xe vận tải, xe máy chuyên dùng, xe đặc chủng…; nội dung, nguyên tắc cải tạo xe quân sự (như mỗi xe cơ giới chỉ được cải tạo, thay đổi động cơ và không quá 03 hệ thống, tổng thành trong 07 hệ thống, tổng thành của xe nguyên thủy. Việc cải tạo xe quân sự phải được Tổng Tham mưu trưởng phê duyệt, cấp phép hoặc Cục trưởng cục Xe máy- Vận tải cấp phép theo từng chủng loại xe).

Người tham gia GTĐB bao gồm: người điều khiển, người được chở trên phương tiện tham gia GTĐB; người điều khiển, dẫn dắt vật nuôi trên đường bộ; người đi bộ trên đường bộ.

Người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB bao gồm: người điều khiển xe cơ giới (sau đây gọi là người lái xe), người điều khiển xe thô sơ, người điều khiển xe máy chuyên dùng.

Người điều khiển GTĐB (sau đây gọi là người điều khiển giao thông) bao gồm: Cảnh sát giao thông và người được giao nhiệm vụ hướng dẫn giao thông trên đường bộ (ví dụ ở những đoạn đường đang sửa chữa, thi công thường có người của đơn vị thi công thực hiện việc dừng xe, cho xe đi thì cũng được coi là người điều khiển giao thông, và chúng ta cũng phải chấp hành sự hướng dẫn đó của họ).

Thiết bị an toàn cho trẻ em là thiết bị có đủ khả năng bảo đảm an toàn cho trẻ em ở tư thế ngồi hoặc nằm trên xe ô tô, được thiết kế để giảm nguy cơ chấn thương cho người dùng trong trường hợp xảy ra va chạm hoặc xe ô tô giảm tốc độ đột ngột, bằng cách hạn chế sự di chuyển của cơ thể trẻ em. Đây là quy định mới của luật

1.3. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Điều khiển xe cơ giới tham gia GTĐB không có GPLX theo quy định của pháp luật; điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia GTĐB không có GPLX hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về GTĐB, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng.

Đặc biệt chú ý về quy định không có GPLX theo quy định. Theo đó, nếu chúng ta tuy có GPLX dân sự được phép điều khiển xe ô tô dân sự cùng loại xe ô tô quân sự nhưng không có GPLX quân sự mà vẫn điều khiển xe quân sự thì vẫn bị coi là không có GPLX theo quy định. Ngoài ra, theo Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC (28/8/2013) thì những trường hợp sau cũng là không có GPLX theo quy định:

- Điều khiển phương tiện giao thông không có hoặc trong thời hạn bị tước quyền sử dụng GPLX do cơ quan có thẩm quyền cấp đối với loại phương tiện đang điều khiển mà theo quy định của pháp luật, khi điều khiển loại phương tiện đó phải có GPLX phù hợp.

- Điều khiển phương tiện giao thông trong thời hạn bị cơ quan có thẩm quyền cấm điều khiển phương tiện đó.

Ngoài ra, khi áp dụng tình tiết không có GPLX theo quy định cần chú ý:

- Thời hạn sử dụng của GPLX do cơ quan có thẩm quyền cấp được tính từ ngày cấp phép đến khi hết hạn ghi trên GPLX.

- Trường hợp người điều khiển phương tiện giao thông đã bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ GPLX mà cần tiếp tục điều khiển phương tiện nốt hành trình còn lại thì trên hành trình đó không bị coi là không có GPLX theo quy định[4].

2. Điều khiển phương tiện tham gia GTĐB mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn. Đây là điểm mới của Luật năm 2024. Theo Luật cũ chỉ cấm tuyệt đối (nồng độ = 0) đối với người điều khiển xe ô tô; còn xe máy chỉ khi nồng độ vượt quá 0,25 miligam/ 1 lít khí thở.

Vậy, tại sao ngày 01/01/2025 luật này mới có hiệu lực mà đã trước đây đã phạt người điều khiển xe máy mà nồng độ cồn trên 0, dưới mức 0,25 miligam/ 1 lít khí thở. Đây là do tại Điều 38- Luật phòng chống tác hại của rượu bia năm 2019 đã có điều luật sửa đổi quy định của Luật giao thông năm 2008 là “nghiêm cấm điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” và Chính phủ đã căn cứ vào Luật này để ban hành Nghị định xử phạt, không cần phải chờ đến khi Luật Giao thông năm 2024 được ban hành và có hiệu lực.

3. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng.

4. Xúc phạm, đe dọa, cản trở, chống đối hoặc không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn, yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ về bảo đảm trật tự, an toàn GTĐB.

5. Đua xe, tổ chức đua xe, xúi giục, giúp sức, cổ vũ đua xe trái phép; điều khiển phương tiện tham gia GTĐB lạng lách, đánh võng, rú ga liên tục.

6. Dùng tay cầm và sử dụng điện thoại hoặc thiết bị điện tử khác khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đang di chuyển trên đường bộ.

7. Giao xe cơ giới, xe máy chuyên dùng cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để điều khiển xe tham gia GTĐB.

* Ví dụ: Vừa qua, xảy ra vụ án nhóm thanh niên đua xe đâm vào cô gái dừng đèn đỏ khiến cô gái này tử vong. Công an đã khởi tố vụ án để xử lý nhóm thanh niên này. Nếu làm rõ việc bố, mẹ của người chưa đủ tuổi hoặc chưa có giấy phép lái xe đã giao xe cho người gây tai nạn thì sẽ xử lý hình sự bố, mẹ của người gây tai nạn.

8. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm; khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị nạn, người gây tai nạn hoặc người giúp đỡ, cứu chữa, đưa người bị nạn đi cấp cứu; lợi dụng việc xảy ra tai nạn để hành hung, đe dọa, xúi giục, gây sức ép, làm mất trật tự, cản trở việc xử lý tai nạn (Các hành vi trên nếu gây hậu quả sẽ bị xử lý hình sự theo các tội phạm tương ứng).

9. Điều khiển vật thể bay, tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ hoạt động trong phạm vi khổ giới hạn đường bộ gây cản trở hoặc nguy cơ mất an toàn cho người, phương tiện tham gia GTĐB, trừ tàu bay không người lái, phương tiện bay siêu nhẹ được cấp phép bay.

10. Lắp đặt, sử dụng thiết bị âm thanh, ánh sáng trên xe cơ giới, xe máy chuyên dùng gây mất trật tự, an toàn GTĐB.

Ngoài ra, Luật còn quy định nghiêm cấm nhiều hành vi khác liên quan đến việc cải tạo xe; hoạt động nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp xe cơ giới… các đ/c tự tìm hiểu, nghiên cứu thêm.

2. MỘT SỐ QUY TẮC THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

2.1. Quy tắc chung tham gia giao thông đường bộ (Điều 10)

Người tham gia GTĐB phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định, chấp hành báo hiệu đường bộ và các quy tắc giao thông đường bộ khác.

Người lái xe và người được chở trên xe ô tô phải thắt dây đai an toàn tại những chỗ có trang bị dây đai an toàn khi tham gia GTĐB (Luật 2008 chỉ bắt buộc người ngồi hàng ghế trước phải thắt dây an toàn).

 Khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe ô tô không được cho trẻ em ngồi cùng hàng ghế với người lái xe, trừ loại xe ô tô chỉ có một hàng ghế; người lái xe phải sử dụng, hướng dẫn sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em.

2.2. Chấp hành báo hiệu đường bộ (Điều 11)

Người tham gia GTĐB phải chấp hành báo hiệu đường bộ theo thứ tự ưu tiên từ trên xuống dưới như sau:

+ Hiệu lệnh của người điều khiển giao thông;

+ Tín hiệu đèn giao thông;

+ Biển báo hiệu đường bộ;

+ Vạch kẻ đường và các dấu hiệu khác trên mặt đường;

+ Cọc tiêu, tường bảo vệ, rào chắn, đinh phản quang, tiêu phản quang, cột Km, cọc H;

+ Thiết bị âm thanh báo hiệu đường bộ.

2.3. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe (Điều 12)

- Người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB phải bảo đảm tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn.

- Người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau:

+ Tại nơi có vạch kẻ đường hoặc báo hiệu khác dành cho người đi bộ hoặc tại nơi mà người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường;

+ Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;

+ Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế;

+ Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường hẹp, đường vòng, đường quanh co, đường đèo, dốc;

+ Nơi cầu, cống hẹp, đập tràn, đường ngầm, hầm chui, hầm đường bộ…

2.4. Sử dụng làn đường (Điều 13)

Phương tiện tham gia GTĐB di chuyển với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải theo chiều đi của mình; Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép…

Mỗi lần chuyển làn đường chỉ được phép chuyển sang một làn đường liền kề. Trên làn đường dành riêng cho một loại phương tiện hoặc một nhóm loại phương tiện, người điều khiển loại phương tiện khác không được đi vào làn đường đó.

 2. 5. Vượt xe và nhường đường cho xe xin vượt (Điều 14)

Vượt xe là tình huống giao thông trên đường mà mỗi chiều đường xe chạy chỉ có một làn đường dành cho xe cơ giới, xe đi phía sau di chuyển sang bên trái để di chuyển lên trước xe phía trước.

Chấp hành quy tắc vượt xe bên trái, trừ một số trường hợp được vượt bên phải: khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái hoặc khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái thì được vượt về bên phải.

2.6. Chuyển hướng xe (Điều 15)

Chuyển hướng xe là tình huống giao thông mà xe rẽ trái hoặc rẽ phải hoặc quay đầu xe. Trước khi chuyển hướng, người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB phải quan sát, bảo đảm khoảng cách an toàn với xe phía sau. Tín hiệu báo hướng rẽ hoặc tín hiệu bằng tay phải sử dụng liên tục trong quá trình chuyển hướng. Không được quay đầu xe trên đường một chiều.

2.7. Lùi xe (Điều 16)

Cơ bản Luật 2024 kế thừa Luật 2008 về quy định lùi xe, chỉ bổ sung trường hợp: Không được lùi xe ở đường một chiều.

 2.8. Dừng xe, đỗ xe (Điều 18)

Cơ bản Luật 2024 kế thừa Luật 2008 về quy định dừng xe, đỗ xe. Tuy nhiên bổ sung làm rõ thêm:  Khi dừng xe không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái, trừ trường hợp rời khỏi vị trí lái để đóng, mở cửa xe, xếp dỡ hàng hóa, kiểm tra kỹ thuật xe nhưng phải sử dụng phanh đỗ xe hoặc thực hiện biện pháp an toàn khác.

2.9. Mở cửa xe (Điều 19)

- Chỉ được mở cửa xe khi xe đã dừng, đỗ.

- Trước khi mở cửa xe, người mở cửa phải quan sát phía trước, phía sau và bên phía mở cửa xe, khi thấy an toàn mới được mở cửa xe, ra khỏi xe; không để cửa xe mở nếu không bảo đảm an toàn.

2.10. Sử dụng đèn (Điều 20)

- Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia GTĐB phải bật đèn chiếu sáng phía trước trong thời gian từ 18 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau hoặc khi có sương mù, khói, bụi, trời mưa, thời tiết xấu làm hạn chế tầm nhìn.

- Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tắt đèn chiếu xa, bật đèn chiếu gần trong các trường hợp:

+ Khi gặp người đi bộ qua đường;

+ Khi đi trên các đoạn đường qua khu đông dân cư có hệ thống chiếu sáng đang hoạt động;

+ Khi gặp xe đi ngược chiều, trừ trường hợp dải phân cách có khả năng chống chói;

+ Khi chuyển hướng xe tại nơi đường giao nhau.

2.11. Quy định cụ thể 2 trường hợp Sử dụng tín hiệu còi (Điều 21)

- Báo hiệu cho người tham gia giao thông đường bộ khi xuất hiện tình huống có thể mất an toàn giao thông;

- Báo hiệu chuẩn bị vượt xe.

2.12. Qua phà, qua cầu phao (Điều 23)

Kế thừa quy định Luật 2008 và bổ sung khi qua cầu phao, phải chấp hành quy định:

- Xe cơ giới, xe máy chuyên dùng phải đi theo một hàng theo chiều di chuyển, không gây cản trở người, phương tiện đi ngược chiều;

- Xe thô sơ, người đi bộ phải đi sát về phía bên phải theo chiều đi của mình, không gây cản trở xe cơ giới, xe máy chuyên dùng;

- Xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, xe thô sơ, người đi bộ phải tuân thủ hướng dẫn của người điều khiển giao thông.

2.13. Quy định về xếp hàng hóa trên xe thô sơ (Khoản 5, Điều 31)

Hàng hóa xếp trên xe thô sơ phải bảo đảm an toàn, không gây cản trở giao thông và che khuất tầm nhìn của người điều khiển. Hàng hóa xếp trên xe không vượt quá 1/3 chiều dài thân xe và không vượt quá 01 mét phía trước và phía sau xe; không vượt quá 0,4 mét mỗi bên bánh xe.

2.14. Người điều khiển, dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo đi trên đường bộ (Điều 32)

Kế thừa Luật 2008 về điều khiển, dẫn dắt vật nuôi đi trên đường bộ và bổ sung quy định không được thả vật nuôi trên đường bộ; quy định  điều khiển xe vật nuôi kéo đi trên đường bộ.

 2. 15. Người lái xe, người được chở, hàng hóa xếp trên xe mô tô, xe gắn máy (Điều 33)

- Người lái xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừ những trường hợp sau thì được chở tối đa hai người:

+ Chở người bệnh đi cấp cứu;

+ Áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

+ Trẻ em dưới 12 tuổi (luật 2008 là trẻ em dưới 14 tuổi).

+ Người già yếu hoặc người khuyết tật (bổ sung mới).

- Xe mô tô, xe gắn máy không được xếp hàng hóa vượt quá chiều rộng giá đèo hàng về mỗi bên 0,3 mét, vượt quá về phía sau giá đèo hàng 0,5 mét theo thiết kế của nhà sản xuất; chiều cao xếp hàng hóa tính từ mặt đường xe chạy không vượt quá 02 mét.

3. MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ PHƯƠNG TIỆN THAM GIA GTĐB

3.1. Phân loại phương tiện giao thông đường bộ (Điều 34)

Luật 2024 đã giải thích rõ từng loại xe và bổ sung phương tiện giao thông thông minh là xe cơ giới cho phép tự động hóa một phần hoặc toàn bộ hoạt động điều khiển phương tiện, xác định lộ trình và xử lý tình huống khi tham gia GTĐB.

3.2. Điều kiện phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 35)

Kế thừa quy định Luật 2008 và bổ sung:  Xe ô tô kinh doanh vận tải phải lắp thiết bị giám sát hành trình. Xe ô tô chở người từ 08 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) kinh doanh vận tải, xe ô tô đầu kéo, xe cứu thương phải lắp thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe. Phương tiện giao thông thông minh bảo đảm các điều kiện quy định và được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động.

3.3. Biển số xe (Điều 36): Đây là quy định mới

Luật 2024 đã quy định cụ thể từng loại biển số xe được cấp cho cơ quan nhà nước, cơ quan ngoại giao, người nước ngoài, biển số xe cấp cho hoạt động kinh doanh vận tải…

Biển số xe được quản lý theo mã định danh, theo đó:

+ Nếu xe hết niên hạn sử dụng, hư hỏng không sử dụng được hoặc chuyển quyền sở hữu xe, chủ xe được giữ lại số biển số xe trong thời hạn 05 năm để đăng ký cho xe khác thuộc sở hữu của mình; quá thời hạn nêu trên, số biển số xe đó bị cơ quan đăng ký xe thu hồi, nhập vào kho biển số xe để đăng ký, cấp cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp chuyển nhượng, trao đổi, tặng cho, để thừa kế xe gắn với biển số xe trúng đấu giá.

+ Nếu chủ xe có thay đổi thông tin về trụ sở, nơi thường trú, tạm trú thì được giữ lại số biển số xe định danh.

3.4. Đấu giá biển số xe (Điều 37):

Luật 2024 đã bổ sung quy định đấu giá biển số xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy. Giá khởi điểm của một biển số xe ô tô đưa ra đấu giá không thấp hơn 40 triệu đồng; giá khởi điểm một biển số xe mô tô, xe gắn máy đưa ra đấu giá không thấp hơn 05 triệu đồng. Người trúng đấu giá biển số xe: Được chuyển nhượng, trao đổi, tặng cho, để thừa kế xe gắn với biển số xe trúng đấu giá.

3.5. Niên hạn sử dụng của xe cơ giới (Điều 40): Đây là điểm mới

- Được tính bắt đầu từ năm sản xuất xe (chứ không phải năm đăng ký xe) đến hết ngày 31/12 của năm hết niên hạn sử dụng.

(Hiện nay, niên hạn đang được áp dụng theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 95/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009) Cụ thể:

                + Không quá 25 năm đối với xe ô tô chở hàng.

+ Không quá 20 năm đối với xe ô tô chở người.

+  Không quá 17 năm đối với xe ô tô chuyển đổi công năng từ các loại xe khác thành xe ô tô chở người trước ngày 01 tháng 01 năm 2002.

- Khi Luật TTATGT có hiệu lực (01/01/2025) Chính phủ sẽ ban hành Nghị định mới quy định cụ thể về niên hạn xe.

- Các trường hợp xe cơ giới không áp dụng niên hạn sử dụng bao gồm:

+ Xe mô tô, xe gắn máy, xe ô tô chở người có số người cho phép chở đến 08 người (không kể người lái xe), xe ô tô chuyên dùng, rơ moóc, sơ mi rơ moóc;

+ Xe cơ giới của quân đội, công an phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh.

3.6. Bổ sung quy định kiểm định khí thải đối với xe mô tô, xe gắn máy

Cơ bản Luật 2024 vẫn quy định kiểm định đối với xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia GTĐB và bổ sung: thực hiện kiểm định khí thải đối với xe mô tô, xe gắn máy theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và được thực hiện tại các cơ sở kiểm định khí thải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

3.7. Bổ sung quy định bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với xe ô tô chở trẻ em mầm non, học sinh (Điều 46)

Theo đó: Xe ô tô kinh doanh vận tải chở trẻ em mầm non, học sinh phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

- Bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 35 của Luật; có thiết bị ghi nhận hình ảnh trẻ em mầm non, học sinh và thiết bị có chức năng cảnh báo, chống bỏ quên trẻ em trên xe; có niên hạn sử dụng không quá 20 năm; có màu sơn theo quy định của Chính phủ.

- Xe ô tô chở trẻ em mầm non hoặc học sinh tiểu học phải có dây đai an toàn phù hợp với lứa tuổi hoặc sử dụng xe có ghế ngồi phù hợp với lứa tuổi theo quy định của pháp luật.

 - Khi đưa đón trẻ em mầm non, học sinh tiểu học phải bố trí tối thiểu 01 người quản lý trên mỗi xe ô tô để hướng dẫn, giám sát, duy trì trật tự và bảo đảm an toàn cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học trong suốt chuyến đi. Nếu xe từ 29 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) mà chở từ 27 trẻ em mầm non và học sinh tiểu học trở lên phải bố trí tối thiểu 02 người quản lý trên mỗi xe ô tô. Người quản lý, người lái xe có trách nhiệm kiểm tra trẻ em mầm non, học sinh tiểu học khi xuống xe; không được để trẻ em mầm non, học sinh tiểu học trên xe khi người quản lý và người lái xe đã rời xe.

4. MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN THAM GIA GTĐB

4.1. Điều kiện của người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB (Điều 56)

Luật 2024 kế thừa quy định của Luật 2008 về điều kiện của người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB và bổ sung quy định mới:

- Người lái xe tham gia GTĐB phải có GPLX đang còn điểm.

- Người tập lái xe ô tô, người dự sát hạch lái xe ô tô khi tham gia GTĐB phải thực hành trên xe tập lái, xe sát hạch trên tuyến đường tập lái, tuyến đường sát hạch, có giáo viên dạy lái hoặc sát hạch viên bảo trợ tay lái.

4.2. Giấy phép lái xe (Điều 57)

Luật 2024 đã thay đổi ký hiệu về giấy phép lái xe và bổ sung công suất đối xe sử dụng động cơ điện, cụ thể như:

- Hạng A cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh trên 125 cm3 hoặc có công suất động cơ điện trên 11 kW và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1 (Luật 2008 quy định hạng A2)

 - Hạng B1 cấp cho người lái xe mô tô ba bánh và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1 (Luật 2008 quy định hạng A3)

- Đối với hạng B, Luật 2008 chia thành B1, B2, trong đó B1 cấp cho người không hành nghề lái xe, B2 cấp cho người hành nghề lái xe. Luật 2024 chỉ quy định chung là hạng B và không phân biệt là có hành nghề lái xe hay không, cụ thể: Hạng B cấp cho người lái xe ô tô chở người đến 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe); xe ô tô tải và ô tô chuyên dùng có khối lượng toàn bộ theo thiết kế đến 3.500 kg; các loại xe ô tô quy định cho giấy phép lái xe hạng B kéo rơ moóc có khối lượng toàn bộ theo thiết kế đến 750 kg.

- Luật quy định thời hạn của GPLX như sau:

+ GPLX các hạng A1, A, B1 không thời hạn;

+ GPLX hạng B và hạng C1 có thời hạn 10 năm kể từ ngày cấp;

+ GPLX các hạng C, D1, D2, D, BE, C1E, CE, D1E, D2E và DE có thời hạn 05 năm kể từ ngày cấp.

4. 3. Điểm của giấy phép lái xe (Điều 58): Đây là quy định mới

- Điểm của GPLX được dùng để quản lý việc chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn GTĐB của người lái xe trên hệ thống cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn GTĐB, bao gồm 12 điểm. Số điểm trừ mỗi lần vi phạm tùy thuộc tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn GTĐB. Dữ liệu về điểm trừ GPLX của người vi phạm sẽ được cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu ngay sau khi quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành và thông báo cho người bị trừ điểm giấy phép lái xe biết.

- GPLX chưa bị trừ hết điểm và không bị trừ điểm trong thời hạn 12 tháng từ ngày bị trừ điểm gần nhất thì được phục hồi đủ 12 điểm.

- Nếu GPLX bị trừ hết điểm thì người có GPLX không được điều khiển phương tiện tham gia GTĐB theo GPLX đó. Sau thời hạn ít nhất là 06 tháng kể từ ngày bị trừ hết điểm, người có GPLX được tham gia kiểm tra nội dung kiến thức pháp luật về trật tự, an toàn GTĐB theo quy định tại khoản 7 Điều 61 của Luật này do lực lượng Cảnh sát giao thông tổ chức, có kết quả đạt yêu cầu thì được phục hồi đủ 12 điểm.

4. 4. Nâng độ tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người (Khoản 1, Điều 59)

 Luật 2008 quy định: Tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi là 50 tuổi đối với nữ và 55 tuổi đối với nam.

Luật 2024 đã tăng độ tuổi cả nam và nữ như sau: Tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người (kể cả xe buýt) trên 29 chỗ (không kể chỗ của người lái xe), xe ô tô chở người giường nằm là đủ 57 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ.

4. 5. Quy định cụ thể các trường hợp GPLX xe bị thu hồi (Điều 62) khi:

- Người được cấp GPLX không đủ điều kiện sức khỏe theo kết luận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với từng hạng GPLX;

- GPLX được cấp sai quy định;

- GPLX đã quá thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng.

5. QUY ĐỊNH VỀ TUẦN TRA KIỂM SOÁT, ĐIỀU KHIỂN VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN GTĐB

5.1. Hoạt động tuần tra, kiểm soát về trật tự, an toàn GTĐB (Điều 65)

- Cảnh sát giao thông là lực lượng chính trong tuần tra, kiểm soát, còn các lực lượng khác trong CAND được huy động phối hợp với CSGT thực hiện tuần tra, kiểm soát khi cần thiết trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng được huy động theo quy định của pháp luật, quyết định của cấp có thẩm quyền và phù hợp với thực tế nhiệm vụ.

- Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và nguyên tắc của Cảnh sát giao thông khi thực hiện tuần tra, kiểm soát.

- Xe cơ giới quân sự, xe máy chuyên dùng quân sự và người điều khiển xe cơ giới quân sự, xe máy chuyên dùng quân sự tham gia GTĐB phải chấp hành yêu cầu kiểm tra, kiểm soát về trật tự, an toàn GTĐB của CSGT và yêu cầu kiểm tra về điều lệnh nội vụ, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của lực lượng kiểm soát quân sự, kiểm tra xe quân sự. Hoạt động kiểm tra điều lệnh nội vụ và việc chấp hành pháp luật của lực lượng kiểm soát quân sự, kiểm tra xe quân sự trên đường bộ thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư số 71/2024/TT-BQP quy định về kiểm soát quân sự, kiểm tra xe quân sự tham gia giao thông đường bộ. Đối với công tác kiểm soát quân sự vẫn thực hiện theo Điều lệnh quản lý bộ đội ban hành kèm theo thông tư số 193/2011/TT-BQP. Còn công tác kiểm tra xe quân sự lực lượng kiểm tra xe quân sự thực hiện; lực lượng này bao gồm đội kiểm tra xe quân sự được thành lập theo quyết định của chỉ huy cấp sư đoàn trở lên).

5.2. Căn cứ dừng phương tiện tham gia GTĐB để kiểm tra, kiểm soát (Điều 66)

Đây là quy định mới của Luật 2024, theo đó CSGT được dừng phương tiện tham gia GTĐB để kiểm tra, kiểm soát khi có một trong các căn cứ sau:

- Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ xác định có hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn GTĐB hoặc vi phạm pháp luật khác;

- Thực hiện theo mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của cấp có thẩm quyền để phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn GTĐB mà buộc phải dừng phương tiện để kiểm tra, kiểm soát mới phát hiện được;

- Phục vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm; phòng, chống thiên tai; phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống dịch bệnh;

- Có tin báo, tố giác, phản ánh, kiến nghị, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân về tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật khác.

5.3. Chỉ huy, điều khiển  giao thông đường bộ bảo đảm trật tự an toàn GTĐB và Chương 7: Giải quyết tai nạn giao thông đường bộ (xem cụ thể trong Luật)

6. HIỆU LỰC THI HÀNH VÀ CÁC QUY ĐỊNH CHUYỂN TIẾP

6.1. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025.

Riêng khoản 3 Điều 10 của Luật quy định “Khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe ô tô không được cho trẻ em ngồi cùng hàng ghế với người lái xe, trừ loại xe ô tô chỉ có một hàng ghế; người lái xe phải sử dụng, hướng dẫn sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em” có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

6.2. Quy định về chuyển tiếp (Điều 89)

- GPLX được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục sử dụng theo thời hạn ghi trên GPLX.

- GPLX được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành nếu chưa thực hiện đổi, cấp lại theo quy định của Luật này có hiệu lực sử dụng như sau:

a) GPLX hạng A1 được tiếp tục điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 đến dưới 175 cm3 hoặc có công suất động cơ điện từ 04 kW đến dưới 14 kW;

b) GPLX hạng A2 được tiếp tục điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 175 cm3 trở lên hoặc có công suất động cơ điện từ 14 kW trở lên và các loại xe quy định cho GPLX hạng A1 quy định tại điểm a khoản này;

c) GPLX xe hạng A3 được tiếp tục điều khiển xe mô tô ba bánh, các loại xe quy định cho GPLX hạng A1 quy định tại điểm a khoản này và các xe tương tự;

đ) GPLX xe hạng B1 số tự động cấp cho người không hành nghề lái xe được tiếp tục điều khiển xe ô tô số tự động chở người đến 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe); xe ô tô tải, kể cả ô tô tải chuyên dùng số tự động có trọng tải dưới 3.500 kg;

g) GPLX hạng B2 cấp cho người hành nghề lái xe được tiếp tục điều khiển xe ô tô chở người đến 08 chỗ (không kể chỗ của người lái xe); xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg;

* Nếu người có GPLX đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành có nhu cầu đổi, cấp lại GPLX thì thực hiện như sau:

a) GPLX hạng A1 được đổi, cấp lại sang GPLX hạng A với điều kiện hạn chế là chỉ được điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh đến dưới 175 cm3 hoặc có công suất động cơ điện đến dưới 14 kW;

b) GPLX hạng A2 được đổi, cấp lại sang GPLX hạng A;

c) GPLX hạng A3 được đổi, cấp lại sang GPLX hạng B1;

đ) GPLX hạng B1 số tự động được đổi, cấp lại sang GPLX hạng B với điều kiện hạn chế là chỉ được điều khiển xe ô tô số tự động;

e) GPLX hạng B1, B2 được đổi, cấp lại sang GPLX hạng B hoặc hạng C1 và chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng cho người điều khiển máy kéo có trọng tải đến 3.500 kg;

- Chứng nhận đăng ký xe, biển số xe máy chuyên dùng cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành vẫn có giá trị sử dụng.

+ Chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì có giá trị sử dụng đến hết thời hạn ghi trên giấy chứng nhận đó.

- Việc đấu giá biển số xe ô tô được thực hiện trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành và đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành đã được cấp văn bản xác nhận biển số xe ô tô trúng đấu giá thì tiếp tục thực hiện theo Nghị quyết số 73/2022/QH15 của Quốc hội về thí điểm đấu giá biển số xe ô tô; trường hợp chưa được cấp xác nhận biển số xe ô tô trúng đấu giá thì tiếp tục thực hiện theo Nghị quyết số 73/2022/QH15 của Quốc hội về thí điểm đấu giá biển số xe ô tô và quy định tại điểm d khoản 1 Điều 38 của Luật này.

Phần thứ ba
XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1. Xử phạt hành chính

Được thực hiện theo Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ( 30/12/2019  và được bổ sung tại nghị định số 123/2021/NĐ-CP (28/12/ 2021).

Bộ Công an đang trình dự thảo Chính phủ Nghị định mới thay thế Nghị định 100 để quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực GTĐB; trừ điểm, phục hồi điểm GPLX….

2. Xử lý hình sự

Tùy theo mức độ vi phạm, người vi phạm GTĐB có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm an toàn giao thông quy định từ Điều 260 đến Điều 266 BLHS là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có “năng lực trách nhiệm hình sự”[5] thực hiện một cách vô ý, xâm phạm trật tự an toàn GTĐB, gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Đó là:

- Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260 BLHS) với mức phạt tù cao nhất đến 15 năm tù.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia GTĐB mà vi phạm quy định về an toàn GTĐB gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

Đã giới thiệu với các đ/c ở phần trên; nhắc lại để các đ/c chú ý: chỉ có GPLX dân sự nhưng điều khiển xe quân sự cũng bị coi là không có GPLX theo quy định

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

- Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 261 BLHS) với mức phạt tù cao nhất đến 10 năm tù.

- Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn (Điều 262 BLHS) với mức phạt tù cao nhất đến 10 năm tù.

- Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 263 BLHS) với mức phạt tù cao nhất đến 12 năm tù.

- Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 264 BLHS) với mức phạt tù cao nhất đến 07 năm tù.

Điều 264 :

Người nào giao cho người mà biết rõ người đó không có GPLX hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia GTĐB gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

+ Làm chết người;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Làm chết 02 người;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Làm chết 03 người trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

* Ngày 29/10/2024 Ban Chỉ đạo 50 Quân khu ban hành Kế hoạch số 1434/KH-BCĐ thực hiện quy định của pháp luật về “Không giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông”.

- Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 265 BLHS) với mức phạt tù cao nhất đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.

- Tội đua xe trái phép (Điều 266 BLHS) với mức phạt tù cao nhất đến 20 năm tù.

* Trong trường hợp người vi phạm giao thông gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thì ngoài việc chịu trách nhiệm hình sự, tùy theo mức độ lỗi mà người đó gây ra, thì còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị tai nạn theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP (06/9/2022) của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Ví dụ: Chủ sở hữu biết người đó không có bằng lái xe ô tô nhưng vẫn giao quyền chiếm hữu, sử dụng cho họ mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại.

- Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

+ Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

+ Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Xử lý kỷ luật Quân đội[6]

Điều 28- Thông tư 143/2023/TT-BQP (27/12/2023) của Bộ trưởng BQP quy định: Người có hành vi vi phạm các quy định bảo đảm an toàn giao thông thì bị kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo.

Nếu đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm hoặc là người có chuyên môn nghiệp vụ hoặc thiếu trách nhiệm trong việc ngăn chặn hậu quả hoặc để xảy ra mất an toàn về người, vũ khí, trang bị, phương tiện, tài sản thì bị kỷ luật từ hạ bậc lương, giáng chức, cách chức đến giáng cấp bậc quân hàm.

4. Xử lý kỷ luật Đảng

Điều lệ Đảng quy định tùy mức độ, tính chất sai lầm của đảng viên, áp dụng các hình thức kỷ luật sau đây: “Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ”[7].

Ban Chấp hành Trung ương quy định về “nguyên tắc xử lý kỷ luật”[8] như sau: Đảng viên vi phạm pháp luật phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, bị truy nã, bị toà án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì khai trừ ra khỏi Đảng; nếu hình phạt nhẹ hơn cải tạo không giam giữ thì tùy nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để thi hành kỷ luật đảng tương xứng. Nếu làm thất thoát tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân thì phải xem xét trách nhiệm và bồi thường.

Đồng thời “kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử phạt của pháp luật”[9]. Do đó, nếu Đảng viên vi phạm luật giao thông đến mức bị phạt hành chính thì ngoài phải nộp tiền phạt hành chính còn căn cứ vào mức độ để xem xét một trong các hình thức kỷ luật Đảng nêu trên.

Nếu vi phạm luật giao thông đến mức bị Tòa án tuyên phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên thì sẽ bị khai trừ khỏi Đảng. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án của Tòa án tuyên hình phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên có hiệu lực thì Tòa án sẽ sao và gửi bản án đến cấp ủy quản lý Đảng viên để cấp ủy khai trừ Đảng viên này. 

Từ những nội dung đã nêu trên, mặc dù không có quy định trực tiếp về hình thức kỷ luật Đảng viên khi vi phạm luật giao thông nhưng căn cứ vào mức độ, tính chất, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng… để áp dụng một hình thức kỷ luật Đảng viên phù hợp.


Phần thứ tư
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM VÀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG QUÂN ĐỘI
 

            Để thực hiện tốt các quy định của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Tòa án quân sự Quân khu 2 đề nghị cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần thực hiện tốt một số giải pháp sau: 

          Một là, cấp ủy, chỉ huy các cấp tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Chính phủ, hướng dẫn chỉ đạo của Ủy ban ATGTQG về công tác bảo đảm TTATGT; Kế hoạch số 2477/KH-BQP (14/7/2023) của Bộ Quốc phòng về thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW (25/5/2023) của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm TTATGT trong tình hình mới; Kế hoạch số 1601/KH-BQP (26/5/2022) của Bộ Quốc phòng về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-CP (05/4/2022) của Chính phủ về tăng cường bảo đảm TTATGT và chống ùn tắc giao thông giai đoạn 2022-2025; Thông tư số 66/2024/TT-BQP (14/10/2024) của Bộ Quốc phòng về quy định về kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, xe máy chuyên dùng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng; Thông tư số 71/2024/TT-BQP (14/10/2024) của Bộ Quốc phòng quy định về kiểm soát quân sự, kiểm tra xe quân sự tham gia giao thông đường bộ; Công văn số 8617/TCKT-XM (29/10/2024) của Tổng cục Kỹ thuật về việc chấn chỉnh, xử lý các trường hợp người điều khiển phương tiện cá nhân tham gia giao thông đường bộ vi phạm nồng độ cồn, lái xe ô tô vi phạm tốc độ; Kế hoạch số 1434/KH-BCĐ (29/10/2024) của Ban Chỉ đạo 50 Quân khu về kế hoạch thực hiện quy định của pháp luật về “Không giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông”; Công văn số 108/CHCKT-XMVT (31/10/2024) của Cục Hậu cần- Kỹ thuật Quân khu 2 về việc chấn chỉnh, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, vi phạm các quy định khi tham gia giao thông.

          Hai là, thường xuyên tổ chức quán triệt, tổ chức thực hiện có hiệu quả các yêu cầu, nội dung, giải pháp phòng chống vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực GTĐB đến từng cán bộ, chiến sĩ trong các cơ quan, đơn vị. Xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể cho từng nhiệm vụ, từng hoạt động, phù hợp với đối tượng và tình hình thực tiễn; gắn trách nhiệm của người chỉ huy với kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự ATGT của cơ quan, đơn vị thuộc quyền.

          Ba là, thường xuyên chú trọng, tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền pháp luật ATGT; quán triệt, triển khai thực hiện đồng bộ 8 nhóm giải pháp trong công tác bảo đảm TTATGT theo nội dung của Đề án bảo đảm TTATGT đường bộ trong Quân đội giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Tập trung đẩy mạnh tuyên truyền Luật Giao thông đường bộ; Luật Phòng chống tác hại rượu, bia; quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, nhất là quy định về nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện tham gia giao thông để nâng cao ý thức tự giác của người tham gia giao thông, thực hiện quy định pháp luật về an toàn giao thông “Đã uống rượu, bia không lái xe”, người và xe đã tham gia giao thông phải bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn, chất lượng theo quy định nhất là đối với đội ngũ nhân viên lái xe của cơ quan, đơn vị; “Đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn khi đi mô tô, xe máy”… Công tác tuyên truyền phải bảo đảm đồng bộ, khoa học, tiến hành toàn diện nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Phương châm là phải bảo đảm tính “dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo”.

          Bốn là, duy trì nghiêm hoạt động của lực lượng Kiểm soát quân sự, kiểm tra xe quân sự và lực lượng vệ binh các cấp trong công tác kiểm tra, kiểm soát, đối với quân nhân và phương tiện quân sự hoạt động trong và ngoài doanh trại theo Thông tư số 71/2024/TT-BQP (14/10/2024) của Bộ Quốc phòng quy định về kiểm soát quân sự, kiểm tra xe quân sự tham gia giao thông đường bộ (Công tác kiểm tra xe quân sự; điều kiện của xe quân sự và người điều khiển xe quân sự tham gia giao thông đường bộ thuộc BQP, trong đó chú ý Điều 12, Điều 13 và Điều 15 về thực hành kiểm tra, xử lý vi phạm sau kiểm tra và Báo cáo kết quả kiểm tra xe quân sự về Cơ quan Xe máy- Vận tải thuộc Cục Hậu cần- Kỹ thuật và Cục Xe máy- Vận tải/ Tổng Cục Hậu cần- Kỹ thuật và cấp quân khu, quân đoàn và tương đương); xe ô tô, nhân do quân nhân điều khiển khi tham gia giao thông; phối hợp chặt chẽ với lực lượng CSGT ngăn chặn, xử nghiêm minh, kịp thời “không vùng cấm, không ngoại lệ” xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm TTATGT, TNGT theo quy định  pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội.

Năm là, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị khi giải quyết cho quân nhân nghỉ phép, nghỉ tranh thủ phải yêu cầu viết cam kết không vi phạm pháp luật, kỷ luật và phải bảo đảm an toàn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông; riêng đối với HSQ-CS, ngoài viết bản cam kết, phải cung cấp số điện thoại của gia đình, người thân để chủ động trong công tác phối hợp quản lý, kiểm tra.

          Sáu là, duy trì nghiêm chế độ báo cáo kịp thời, đầy đủ tình hình vi phạm kỷ luật và bảo đảm an toàn; khi đơn vị có vụ việc xảy ra phải kịp thời báo cáo theo quy định; xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.

          Bảy là, đối với từng cá nhân phải tự giác nghiên cứu, học tập để nắm chắc, hiểu rõ các quy định của Luật và các quy định khác có liên quan để từ đó gương mẫu chấp hành nghiêm túc; làm tốt công tác tuyên truyền cho gia đình, người thân, bạn bè và nhân dân trên địa bàn đóng quân trong việc thực hiện tốt quy định của luật và các chế tài xử phạt khi vi phạm. Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong việc chấp hành các quy định của Luật và quy định của cơ quan, đơn vị./.



[1]Tình hình tai nạn giao thông, cháy, nổ và xử lý hành chính về TTATGT năm 2023- https://giaoduc.net.vn/trong-9-thang-nam-2024-da-co-hon-8000-nguoi-chet-vi-tai-nan-giao-thong-post246010.gd

[2] Xử lý hơn 03 triệu trường hợp vi phạm giao thông trên cả nước - https://baodantoc.vn/xu-ly-hon-3-trieu-truong-hop-vi-pham-giao-thong-tren-ca-nuoc-1728962473359.htm

[3] Thông báo số 4790/TB-QH ngày 23/9/2024 của Cục Quân huấn Bộ Quốc phòng tại phụ lục VI Tổng hợp các lỗi vi phạm của từng đơn vị 09 tháng đầu năm 2024

[4] TTLT số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC (28/8/2013).

[5] Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên, ngoại trừ tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 265, 266 BLHS) và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21 BLHS quy định là người đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi).

[6] Bộ Quốc phòng (2023), Điều 28 Thông tư số 143/2023/TT-BQP (27/12/2023) của Bộ Quốc phòng quy định xử lý kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

[7] Điều 35 Điều lệ Đảng.

[9] BCHTW, khoản 10 Điều 2 Quy định 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 về xử lý đảng viên vi phạm, Hà Nội