1.
Thực trạng
thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.
Thị trường tài sản mã hóa tại Việt
Nam đang diễn ra sôi động và phức tạp, những "chợ đen" quy mô lớn,
tiềm ẩn nhiều rủi ro. Theo thống kê, Việt Nam hiện có hơn 20 triệu người đang
sở hữu tài sản mã hóa, đứng thứ 5 toàn cầu … Bên cạnh giao dịch trên sàn quốc
tế, hoạt động trao đổi, mua bán tài sản mã hóa giữa cá nhân với cá nhân trên
không gian mạng còn được tổ chức theo dạng “chợ đen”. Trên các nền tảng mạng xã
hội hiện nay tràn lan các hội nhóm mua bán, trao đổi tài sản mã hóa với những
cái tên như: “MUA BÁN USDT VIỆT NAM”, “Chợ đen Bitcoin Remitano USDT”, “Mua Bán
USDT Miền Trung – Trade Coin”... Thành viên của các nhóm này đăng thông tin về
nhu cầu mua, bán, hoặc trao đổi tài sản mã hóa. Nếu “khớp lệnh”, các thành viên
sẽ trực tiếp giao dịch với nhau. Uy tín của người mua, người bán tài sản mã hóa
trên mạng chỉ dựa vào đánh giá của các thành viên kỳ cựu trong nhóm. Các giao
dịch mua bán tài sản mã hóa giữa cá nhân với cá nhân trên thị trường “chợ đen”
có giá trị từ vài nghìn cho đến vài trăm nghìn USDT, cá biệt có những trường
hợp giá trị giao dịch mua bán tài sản mã hóa lên tới hàng triệu USDT/ngày. Trên
các hội nhóm này, thường xuyên có số lượng lớn thành viên ẩn danh đăng các bài
tìm người thu mua tài sản mã hóa “bẩn” với số lượng cực lớn, có thể lên tới
hàng chục triệu USDT.
2.
Nguy cơ từ
"thị trường ngầm" tài sản mã hóa
Dựa trên tính ẩn danh, giao dịch
xuyên biên giới, giao dịch nhanh không cần thông qua các tổ chức trung gian,
tài sản mã hóa được tội phạm triệt để lợi dụng tạo ra một “thị trường ngầm”
trong việc lưu chuyển dòng tiền thanh toán cho những hoạt động bất hợp pháp
trên không gian mạng. Các đối tượng cũng sử dụng các giao dịch tài sản mã hóa
để phạm tội, gây nhiều nguy cơ tiềm ẩn đe dọa an ninh quốc gia, mất trật tự an
toàn xã hội.
Các giao dịch tài sản mã hóa không
qua kiểm soát của cơ quan nhà nước gây tác động xấu đến an ninh tiền tệ. Với
lượng tiền giao dịch hằng ngày liên quan đến “tài sản mã hóa” lên đến hàng
nghìn tỷ đồng, không thông qua hệ thống tổ chức tín dụng, không được kiểm soát
sẽ có thể ảnh hưởng thị trường tiền tệ và hoạt động thanh toán. Mặt khác, với
lượng lớn nhà đầu tư người Việt Nam tham gia hoạt động mua bán, đầu tư tài sản
mã hóa và giao dịch trên các sàn giao dịch quốc tế làm dòng tiền lớn chảy ra
nước ngoài mà không có sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhiều
cá nhân, tổ chức thu được lợi nhuận cao từ việc thiết lập hệ thống “đào” tài
sản mã hóa và kinh doanh tài sản mã hóa nhưng không khai báo và đóng thuế, gây
thất thu cho ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng tài khoản
thanh toán không chính chủ hoặc thuê, mượn tài khoản thanh toán phục vụ cho
giao dịch tài sản mã hóa có chiều hướng diễn biến phức tạp. Các đối tượng còn
sử dụng các dịch vụ thanh toán “chui”, hoạt động bất hợp pháp để phục vụ mục
đích thanh toán giao dịch tài sản mã hóa.
Rất nhiều vụ án lừa đảo, chiếm đoạt
tài sản trên không gian mạng đã xảy ra. Quá trình hoạt động phạm tội, các đối
tượng lừa đảo thường xuyên thay đổi thông tin điện thoại, tài khoản mạng xã
hội, tài khoản thanh toán, sử dụng tài sản mã hóa để đối phó với công tác phòng
ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý của cơ quan chức năng. Qua thống kê, trong các
vụ án, vụ việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, phần lớn tiền
do phạm tội mà có được chuyển thành tài sản mã hóa thông qua dịch vụ trao đổi,
mua bán ngang hàng tại các sàn giao dịch quốc tế như Binance, HTX, OKX…, gây khó khăn cho công tác điều tra, xác minh,
làm rõ.
Tiếp đến là các
vụ lừa đảo qua các dự án phát hành tài sản mã hóa. Các đối tượng tự phát hành ra tài sản mã hóa không có giá trị quy
đổi trên thị trường (hoặc thanh khoản trên thị trường không cao), chỉ có thể
trao đổi trong nhóm nội bộ. Do vậy, nhà đầu tư sẽ luôn đứng trước nguy cơ bị
lừa đảo, chiếm đoạt tài sản khi các đối tượng phát hành điều chỉnh giá các đồng
tiền xuống không có giá trị, hoặc mất thanh khoản nội bộ…
Một loại hình khác là lừa đảo huy
động vốn dưới hình thức đầu tư vào các loại tài sản mã hóa và trả lãi cho những
người gửi tiền với lợi nhuận cao. Khi huy động được lượng tiền đủ lớn, các đối
tượng sẽ bỏ trốn hoặc lấy nhiều lý do để chậm trả cho khách hàng nhằm chiếm
hưởng trái phép.
Hoạt động dịch chuyển dòng tiền vi
phạm pháp luật xuyên biên giới cũng là vấn đề nhức nhối. Việc sử dụng tài sản
mã hóa để chuyển tiền xuyên biên giới dễ dàng hơn rất nhiều so với các phương
thức truyền thống và khả năng có thể truy vết tương đối hạn chế. Thí dụ, nếu
như muốn chuyển tiền ra nước ngoài, tổ chức nhận tiền gửi phải có trách nhiệm
báo cáo cơ quan chức năng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, nếu cá nhân sử
dụng tiền pháp định để mua tài sản mã hóa theo hình thức P2P qua các sàn giao
dịch quốc tế thì rất khó để xác minh và kiểm soát. Số tài sản mã hóa sau khi
chuyển đổi được có thể tùy ý bán trên thị trường, chuyển cho người khác hoặc
đổi sang một ngoại tệ khác mà không bị một tổ chức tài chính hay cơ quan chức
năng nào giám sát. Thực tiễn đấu tranh, các vụ án, vụ việc về tội phạm sử dụng
công nghệ cao, các đối tượng triệt để lợi dụng các sàn giao dịch tài sản mã hóa
để mua USDT, rửa tiền và chuyển tiền ra nước ngoài.
Ngoài ra vấn đề về bảo vệ dữ liệu cá
nhân cũng đặt ra thách lớn. Các sàn giao dịch tài sản mã hóa thu thập, lưu trữ
lượng lớn thông tin khách hàng (dữ liệu cá nhân cơ bản và nhạy cảm) nhưng chưa
tuân thủ quy định của Luật An ninh mạng, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định
số 53/2022/NĐ-CP ngày 15/8/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh
mạng, Nghị định 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân ảnh
hưởng không nhỏ đến an ninh dữ liệu quốc gia, quyền riêng tư, bảo mật dữ liệu người
dùng khi tham gia giao dịch.
3.
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh
vực tài sản mã hóa.
Để nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài sản mã hóa, các tổ chức, cá nhân
cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
3.1. Các tổ chức có nhu cầu xin cấp
phép thí điểm thị trường tài sản mã hóa theo Nghị quyết số 05/NQ-CP cần tuân
thủ các quy định liên quan, đặc biệt là quy định liên quan tới việc đánh giá,
thẩm định hệ thống thông tin cấp độ 4; việc xây dựng các quy trình giám sát
giao dịch, giám sát rủi ro, quy trình phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng
bố.
3.2. Các cá nhân sở hữu tài sản mã
hóa cần chú ý mốc thời gian sau thời hạn 6 tháng kể từ khi tổ chức cung cấp
dịch vụ tài sản mã hóa đầu tiên được cấp phép, nhà đầu tư trong nước giao dịch
tài sản mã hóa không thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa do Bộ
Tài chính cấp phép tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý vi phạm hành
chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật. Việc giao dịch
tài sản mã hóa tại các sàn giao dịch nội địa sẽ góp phần bảo đảm quyền lợi của
khách hàng khi có tranh chấp xảy ra, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống
rửa tiền và tài trợ khủng bố.
3.3. Hoàn thiện hành lang pháp lý để
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài sản mã hóa. Đồng thời
cần nâng cao hiệu quả công tác phối hợp quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tài
sản mã hóa, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định pháp
luật trong quá trình thí điểm của tổ chức, cá nhân tham gia, nhất là việc thực
hiện Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã
hóa tại Việt Nam và Luật Công nghiệp công nghệ số được Quốc hội thông qua và sẽ
có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
3.4. Xuất phát từ tình hình tội
phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến tài sản số, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt
tài sản sử dụng công nghệ cao nêu trên, để kịp thời phòng ngừa, phát hiện và xử
lý đối với vi phạm trong Lực lượng vũ trang Quân khu, yêu cầu các cơ quan, đơn
vị nghiên cứu quán triển và triển khai thực hiện tốt nội dung công văn số
352/BQP-ĐTHS ngày 19/01/2026 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc triển khai
thực hiện các giải pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật liên quan đến tài sản số,
tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ sử dụng công nghệ cao trong Quân đội.
0 Nhận xét