NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
(Chuyên đề đã được rút gọn và thông qua Tổ tư vấn pháp luật Tòa án quân sự Quân khu 2)
Luật
Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ được Quốc hội khóa XV
thông qua ngày 29/6/2024, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2025, thay thế Luật
Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, sửa đổi, bổ
sung năm 2019. Luật có bố cục gồm 08 chương, 75 Điều.
Phần thứ nhất
SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH VÀ QUAN
ĐIỂM CHỈ ĐẠO KHI XÂY DỰNG LUẬT
I. SỰ CẦN THIẾT
BAN HÀNH LUẬT
Qua
hơn 05 năm triển khai, thi hành Luật Quản lý, sử dụng vũ
khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ
trợ; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang và các
lực lượng khác, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã
hội, phát
triển kinh tế - xã hội của đất
nước, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và phòng ngừa, đấu tranh tội
phạm trong tình hình mới. Đồng thời, đảm bảo việc thực hiện các điều ước quốc tế về phòng, chống buôn bán bất hợp pháp vũ khí, phòng, chống
khủng bố, vũ khí huỷ diệt hàng loạt mà nước ta là thành viên.
Các bộ, ngành, UBND các cấp, lực lượng vũ trang các đơn vị, địa phương đã tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc,
hiệu quả. Công tác tuyên truyền, PBGDPL được tiến hành thường xuyên, rộng khắp,
hiệu quả, qua đó đã nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, sử dụng. Kết quả trong 05 năm, toàn quốc đã vận
động nhân dân giao nộp 99.689 khẩu súng các loại, 17.860 bom, mìn, lựu đạn,
423.390 viên đạn, 3.762.871 kg thuốc nổ, 46.416 kíp nổ, 25.056 công cụ hỗ trợ,
98.895 vũ khí thô sơ, 6.801 linh kiện lắp ráp vũ khí). Phát hiện 34.109 vụ, bắt giữ 56.027 đối tượng,
trong đó: Chế tạo trái phép 135 vụ, 197 đối tượng; mua bán trái phép 593 vụ,
812 đối tượng; vận chuyển trái phép 208 vụ, 251 đối tượng; tàng trữ trái phép
4.342 vụ, 5.659 đối tượng; chiếm đoạt trái phép 30 vụ, 30 đối tượng; trộm cắp
86 vụ, 91 đối tượng; sử dụng trái phép 28.715 vụ, 48.987 đối tượng (sử dụng các loại dao và phương tiện tương
tự dao 16.841 vụ, 26.472 đối tượng); thu 4.975 khẩu súng các loại, 706.169
viên đạn, 321 lựu đạn, bom, mìn, 27.165,8 kg thuốc nổ, 106.564 kíp nổ, 15.249
công cụ hỗ trợ, 28.023 vũ khí thô sơ.
Đối với Bộ Quốc
phòng, đã
trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ phục vụ cho mục
đích quốc phòng đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định, không để xảy ra mất, thất lạc.
Hàng năm, tổ chức đào tạo, huấn luyện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng
đơn vị và cấp 1.376 giấy chứng nhận cho người
quản lý, 20.916 giấy chứng nhận cho người có liên quan; các tổ chức,
doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng sản xuất vũ khí, khí tài đúng theo danh mục,
đáp ứng yêu cầu trang bị, sử dụng phục vụ bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo an ninh, trật
tự.
Tuy nhiên,
bên cạnh những kết quả đạt
được; quá trình triển khai, thực hiện Luật đã phát sinh một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc:
1. Khái niệm vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ chưa đáp ứng yêu cầu quản lý
nhà nước và đấu tranh phòng, chống tội phạm. Việc sử dụng súng tự chế, vũ khí thô
sơ, vũ khí tương tự vũ khí thô sơ, dao và phương tiện tương tự dao gây án đang
diễn biến rất phức tạp; cụ thể: Vũ khí quân dụng 330 vụ/546 đối tượng (chiếm
1,1% tổng số vụ, 1,1% tổng số đối tượng); Vật liệu nổ 246 vụ/373 đối tượng (chiếm 0,8% tổng số vụ, 0,7% tổng số đối tượng);
Công cụ hỗ trợ 978 vụ/1.375 đối tượng (chiếm
3,4% tổng số vụ, 2,8% tổng số đối tượng); Súng
tự chế 1.783 vụ/2.589 đối tượng (chiếm
6,2% tổng số vụ, 2,8% tổng số đối tượng); Vũ khí thô sơ 8.537 vụ/17.632 đối
tượng (chiếm 29,7% tổng số vụ, 36% tổng số
đối tượng), trong đó: Dao găm 857
vụ/1.111 đối tượng; đao, kiếm 1.543 vụ/3.540 đối tượng; mã tấu 1.531 vụ/3.648 đối
tượng; vũ khí thô sơ khác 4.606 vụ/9.333 đối tượng.
Riêng tội phạm sử dụng các loại
dao gây án chiếm tỷ lệ rất cao (16.841 vụ/26.472
đối tượng, chiếm 58,6% tổng số vụ, 54% tổng số đối tượng), nhiều vụ đối tượng sử dụng
dao nhọn, dao sắc, dao sắc nhọn gây án (Dao bầu 1.118 vụ/1.682 đối tượng; dao phay 1.432 vụ/1.821
đối tượng; dao quắm 646 vụ/1.034 đối tượng; các loại dao khác 10.691 vụ/16.919
đối tượng; phương tiện tương tự dao 2.954 vụ/5.016 đối tượng). Đây
là các loại dao có sẵn trong cuộc sống hàng ngày để phục vụ lao động, sản xuất,
sinh hoạt nhưng khi phát sinh mâu thuẫn, đối tượng sẵn sàng sử dụng để tấn công
nạn nhân. Tuy nhiên, chỉ xử lý hình sự khi có đủ căn cứ kết luận đối tượng về tội
giết người, cố ý gây thương tích…, không xử lý được đối tượng về hành vi tàng
trữ, sử dụng trái phép vũ khí vì Luật không quy định dao là vũ khí. Bên cạnh
đó, các đối tượng lợi dụng kẽ hở pháp luật để chế tạo,
tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép các loại súng tự chế có tính sát thương, mức độ
nguy hiểm tương tự vũ khí quân dụng nhưng theo quy định của Luật thì súng tự chế không
nằm trong danh mục vũ khí quân dụng (1.783/330 vụ, 2.589/546 đối tượng).
2. Luật có
30 điều quy định về thủ tục cấp các loại giấy phép, giấy xác nhận về vũ khí,
vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ mà yêu cầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải trực tiếp nộp hồ
sơ tại cơ quan có thẩm quyền. Như vậy, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách,
đơn giản hóa thủ tục; nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp và người dân, cần phải cắt giảm và thực hiện tiếp nhận trên Cổng dịch vụ
công quốc gia và Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của các bộ,
ngành.
3. Hiện nay, nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước
ngoài cho, tặng, viện trợ vũ khí (súng
cầm tay, vũ khí thể thao, vũ khí thô sơ), công cụ hỗ trợ cho cơ quan, tổ
chức trong nước để trang bị, nghiên cứu hoặc sản xuất. Tuy nhiên, Luật quy định
nghiêm cấm việc trao đổi, tặng, cho, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm
cố vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Vì vậy, để tận dụng nguồn lực hỗ trợ từ
nước ngoài, cần thiết phải bổ sung quy định cho phép cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp trong nước được tiếp nhận vũ khí, công cụ hỗ trợ do tổ chức, doanh
nghiệp và cá nhân nước ngoài cho, tặng, viện trợ.
4. Giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, công cụ hỗ
trợ có thời hạn 05 năm. Sau khi hết thời hạn cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
phải làm thủ tục cấp đổi; một số loại công cụ hỗ trợ (dùi cui cao su, áo giáp, găng tay bắt dao, quả nổ, bình xịt hơi
cay...) được cấp giấy xác nhận đăng ký và không có thời hạn. Tuy nhiên, các
loại vũ khí, công cụ hỗ trợ không có sự thay đổi về nhãn hiệu, ký hiệu, số
hiệu; hàng năm, cơ quan quản lý, cấp phép đều tiến hành kiểm tra, trong khi
việc cấp đổi giấy phép sử dụng phát sinh nhiều chi phí. Bên cạnh đó, giấy phép
sử dụng và giấy xác nhận đều là giấy phép cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, cần sửa
đổi, bổ sung Luật theo hướng không quy định thời hạn và chuyển việc cấp giấy
xác nhận đăng ký sang cấp giấy phép sử dụng công cụ hỗ trợ.
5. Một số quy
định về nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ
công nghiệp chưa phù hợp với thực tiễn (chưa
có quy định việc đăng ký sản phẩm vật liệu nổ công nghiệp mới và không nằm trong danh mục vật liệu nổ công
nghiệp nên công tác quản lý, sử
dụng; chưa có quy định điều chỉnh cấp
giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp…) và chưa đồng bộ với các văn bản pháp
luật liên quan (Luật Khoa học và Công nghệ; Luật Quy hoạch…).
Để khắc phục khó
khăn, vướng mắc trên; cần thiết phải xây dựng Luật mới để đảm bảo phù hợp với
thực tiễn, tạo thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân; đồng
thời, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước và phòng ngừa, đấu tranh với
tội phạm, vi phạm về vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO KHI XÂY DỰNG LUẬT
1. Tiếp tục thể chế hoá đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường
lối của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, bảo đảm phù hợp với chủ trương của
Đảng, quy định của Nhà nước về cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính; loại bỏ
những quy định không hợp lý, đang là rào cản gây khó
khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, sử
dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
2. Trên cơ sở tổng kết
thực tiễn, kế thừa các quy định còn phù hợp, khắc phục những hạn chế, bất cập
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân,
đồng thời, tạo cơ sở pháp lý trong công tác quản lý nhà nước và phòng chống tội phạm,
vi phạm pháp luật.
3. Bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tham khảo có
chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ,
công cụ hỗ trợ.
Phần thứ
hai
NỘI DUNG
CƠ BẢN CỦA LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ, VẬT LIỆU NỔ, CÔNG CỤ HỖ TRỢ
1.
Về giải thích từ ngữ
Luật giải thích 14 khái niệm về vũ khí, vật liệu nổ,
công cụ hỗ trợ:
- Vũ khí là thiết
bị, phương tiện hoặc tổ hợp những thiết bị, phương tiện được chế tạo, sản xuất
có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người, phá hủy
kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao,
súng săn.
Vũ
khí quân dụng gồm: Súng cầm tay, súng vác vai, vũ
khí hạng nhẹ, vũ khí hạng nặng, đạn sử dụng cho các loại vũ khí này; các loại
bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi và vũ khí khác thuộc danh mục do Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng ban hành, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng
khác theo quy định của Luật này; Súng bắn đạn ghém,
súng nén khí, súng nén hơi, đạn sử dụng cho các loại súng này thuộc danh mục do
Bộ trưởng Bộ Công an ban hành; Vũ khí quy định tại
điểm a khoản 4 Điều này trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực
lượng khác theo quy định của Luật này để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc
gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a
khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5 và dao
có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với
mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật; các linh
kiện, vũ khí khác được quy định tại điểm đ, điểm e, điểm g theo quy định khoản
2 Điều 2 Luật này.
- Vũ khí thô sơ gồm: Kiếm,
giáo, mác, thương, dao găm, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả
chùy, cung, nỏ, phi tiêu thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành;
Dao có tính sát thương cao quy định tại
khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích để thực hiện hành vi
phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức
thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ, trừ trường hợp sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng,
sức khỏe con người trái pháp luật.
Điểm mới của Luật đó là quy định
“Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ
Công an ban hành”. Vậy khi nào dao có tính sát thương cao được coi là
vũ khí quân dụng, khi nào được coi là vũ khí thô sơ; cần phân biệt như sau:
+ Dao có tính sát thương cao được coi
là vũ khí quân dụng trong trường hợp người sử dụng dao sắc, dao nhọn nhằm mục
đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con
người trái pháp luật.
+ Dao có tính sát thương cao được coi
là vũ khí thô sơ trong trường hợp người sử dụng dao sắc, dao nhọn nhằm mục đích thực hiện hành vi phạm tội, gây rối,
làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ,
người thi hành công vụ.
+ Dao có tính sát thương cao (dao sắc, dao
nhọn) nhưng sử dụng vào mục đích lao động, sản xuất, sinh hoạt hàng ngày
thì không quy định là vũ khí.
Để quản lý chặt chẽ
loại phương tiện có tính chất lưỡng dụng này, phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ sử
dụng dao có tính sát thương cao nhằm mục
đích vi phạm pháp luật, Điều 7 Nghị định số 149/2024/NĐ-CP
(15/11/2024) của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ quy định về các
biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, sử dụng dao có tính sát thương cao (có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026) như sau:
+ Khi sản xuất
dao có tính sát thương cao phải đóng, khắc nhãn hiệu, ký hiệu hoặc tên cơ sở
sản xuất trên sản phẩm; quá trình sản xuất phải quản lý chặt chẽ, bảo đảm an
toàn phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường; sản phẩm dao có tính sát thương
cao phải được bọc kín, đóng gói hoặc đóng thùng;
+ Bán, giới
thiệu sản phẩm dao có tính sát thương cao tại địa điểm cố định phải cất giữ
trong tủ, khay hoặc giá; trường hợp bán dao có tính sát thương cao không có địa
điểm cố định thì phải được bọc kín, đóng gói hoặc có biện pháp cất giữ, bảo
quản chặt chẽ, an toàn;
+ Việc xuất khẩu,
nhập khẩu dao có tính sát thương cao thực hiện theo quy định của pháp luật về
thương mại; sản phẩm dao có tính sát thương cao phải có nguồn gốc, xuất xứ hoặc
trên sản phẩm có nhãn hiệu, ký hiệu hoặc tên cơ sở sản xuất;
+ Khi vận chuyển
dao có tính sát thương cao để kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu phải đóng gói,
đóng thùng, chằng buộc chắc chắn bảo đảm không để rơi, mất, thất lạc trong quá
trình vận chuyển;
+ Quá trình sản xuất,
kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển dao có tính sát thương cao bị mất,
thất lạc tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân phải thông báo cho cơ quan Công an nơi
gần nhất.
Cá nhân khi vận
chuyển, mang dao có tính sát thương cao để sử dụng trong lao động, sản xuất,
sinh hoạt phải được bọc hoặc cất giữ, quản lý bảo đảm an toàn; mang dao có
tính sát thương cao vào nơi công cộng phải được bọc hoặc cất giữ, bảo quản chặt
chẽ; việc sử dụng phải có biện pháp quản lý, bảo quản chặt chẽ, không để người
khác lợi dụng sử dụng vào mục đích trái pháp luật.
- Súng săn là súng kíp, đạn sử dụng cho súng này sử dụng vào mục đích
săn bắn.
- Vật liệu nổ là sản phẩm dưới tác động của
xung kích thích ban đầu gây ra phản ứng hóa học nhanh, mạnh, tỏa nhiệt, sinh
khí, phát sáng, tạo ra tiếng nổ, bao gồm: Thuốc nổ; phụ kiện nổ.
- Công cụ hỗ trợ là phương tiện, động
vật nghiệp vụ được sử dụng để thi hành công vụ, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nhằm
hạn chế, ngăn chặn người có hành vi vi phạm pháp luật chống trả, trốn chạy; bảo
vệ người thi hành công vụ, người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hoặc báo hiệu khẩn
cấp, bao gồm: Súng bắn điện, hơi ngạt, chất độc, chất gây
mê, từ trường, laze, lưới; súng phóng dây mồi; súng bắn đạn nhựa, nổ...; động
vật nghiệp vụ và công cụ khác có tính năng, tác dụng tương tự như công cụ hỗ
trợ.
- Phế liệu, phế phẩm vũ khí, vật
liệu nổ, công cụ hỗ trợ là vật liệu được thải loại trong quá trình sản xuất; vũ
khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đã mất tính năng, tác dụng được
tiếp nhận, thu gom.
2. Nguyên tắc quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ,
công cụ hỗ trợ
Luật quy định 09
nguyên tắc cơ bản, nội dung trọng tâm là:
- Trang bị vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ phải
đúng thẩm quyền, đối tượng và bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, điều kiện
theo quy định; hạn chế thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe con người, tài sản
và môi trường.
-Vũ khí, vật liệu
nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ định kỳ phải được kiểm tra, thống kê,
đánh giá chất lượng; trường hợp không còn nhu cầu sử dụng, hết hạn sử dụng hoặc
hư hỏng không còn khả năng sử dụng phải được thu hồi, thanh lý, tiêu hủy theo
quy định. Trường hợp mất các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ phải
kịp thời báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền.
- Vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ phải được thử
nghiệm, kiểm định, giám định, chứng nhận và đăng ký theo quy định pháp luật về
quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa trước khi sản xuất, kinh doanh, sử dụng.
3. Các hành vi bị nghiêm cấm
Luật nghiêm cấm 16
hành vi sau đây:
- Cá nhân sở
hữu vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, trừ vũ khí quy định về vũ khí thô
sơ theo danh mục do Bộ Công an ban hành là hiện vật trưng bày, triển lãm,
làm đồ gia bảo.
- Nghiên cứu, chế
tạo, sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sửa chữa, hoán
cải, sử dụng trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, vũ
khí thô sơ, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ; sử dụng hoặc chiếm
đoạt súng săn.
- Vận chuyển, mang
trái phép vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ vào, ra lãnh
thổ nước ta hoặc vào nơi cấm, khu vực cấm, khu vực bảo vệ, mục tiêu bảo vệ
và nơi công cộng.
- Lợi dụng, lạm
dụng việc quản lý, sử dụng hoặc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống vi phạm liên
quan đến vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ xâm phạm an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, tính mạng, sức khỏe con người, tài sản,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc nhũng nhiễu, xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp hoặc cản trở hoạt
động bình thường của tổ chức, cá nhân.
- Hủy hoại hoặc cố
ý làm hư hỏng hoặc giao vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ
cho đối tượng không đủ điều kiện.
- Trao đổi, tặng,
cho, tiếp nhận, viện trợ, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố vũ khí,
vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ, trừ trường hợp phục vụ việc
nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, trang bị, sử dụng hoặc trưng bày, triển lãm hoặc
vũ khí thô sơ là hiện vật trưng bày, triển lãm, làm đồ gia bảo hoặc được cấp có
thẩm quyền cho phép.
- Vận chuyển, bảo
quản, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ không
bảo đảm an toàn hoặc làm ảnh hưởng đến môi trường.
- Chiếm đoạt, mua
bán, trao đổi, tặng, cho, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, làm giả, sửa
chữa, tẩy xóa vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại giấy phép, giấy
chứng nhận, chứng chỉ về vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ
trợ.
- Hướng dẫn, huấn
luyện, tổ chức huấn luyện trái phép cách thức chế tạo, sản xuất, sửa chữa, sử
dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ hoặc quảng cáo vũ
khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ dưới mọi hình thức.
- Che giấu, không
tố giác, giúp người khác chế tạo, sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng
trữ, vận chuyển, sửa chữa, hoán cải, sử dụng trái phép hoặc hủy hoại vũ khí,
vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ.
- Cố ý cung cấp
thông tin sai lệch về quản lý; không báo cáo, che giấu hoặc làm sai lệch thông
tin báo cáo về việc mất, thất thoát, tai nạn, sự cố về vũ khí, vật liệu nổ,
tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ.
- Tìm kiếm, thu
gom trái phép vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và phế liệu, phế phẩm vũ khí,
vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
Ví dụ: Thực tế trên địa bàn Quân khu
đã xảy ra vụ việc liên quan tới việc thu gom phế liệu, phế phẩm vũ khí, cụ thể: Trong khoảng thời gian từ năm
2020 - 2022, TAQS Quân khu đã giải quyết 01 đơn khiếu nại, 01 đơn khởi kiện của
ông Trần Vương Việt, trú tại phố Triều Khúc, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội,
là người quản lý 02 quán café “AK - Kỷ vật chiến tranh” tại thành phố Hà Giang.
Nội dung đơn của ông Việt yêu cầu Bộ CHQS tỉnh Hà Giang giao trả lại toàn bộ số phế
phẩm, phế liệu vũ khí, vật liệu nổ (gồm
25 vỏ đầu đạn pháo 76mm và 34 kg vỏ tút 14,5mm) mà Công an thành phố Hà
Giang đã thu hồi và bàn giao cho Bộ CHQS tỉnh Hà Giang. Ông Việt cũng đã nhiều
lần yêu cầu khởi kiện hành chính vụ việc này, nhưng do không chứng minh được
nguồn gốc số phế phẩm, phế liệu vũ khí, vật liệu nổ từ đâu mà có; hơn nữa, việc
lưu trữ những vật phẩm này là vi phạm quy định Luật Quản lý, sử dụng vũ khí,
vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ nên TAND thành phố và TAND tỉnh Hà Giang đã bác
đơn kiện của ông Việt, quyết định giao số phế phẩm, phế liệu vũ khí, vật liệu
nổ cho Bộ CHQS tỉnh Hà Giang quản lý và xử lý theo quy định pháp luật. Tuy
nhiên, ông Việt vẫn tiếp tục làm đơn khiếu nại, đơn khởi kiện đến TAQS Quân khu
và sau khi tiếp nhận đơn, TAQS Quân khu đã giải quyết theo đúng quy định pháp
luật.
4. Trách nhiệm của người có thẩm quyền trong quản lý, sử
dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
- Đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp: Chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm
chung. Bố trí kho, nơi cất giữ và phân công người có đủ điều kiện để quản lý,
sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ theo đúng quy
định pháp luật.
- Đối với người được giao sử dụng: Phải đảm bảo tuân thủ đúng các quy định về sử dụng,
bảo quản, bàn giao vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và các giấy phép có liên
quan khi kết thúc nhiệm vụ.
- Đối với người được giao quản lý kho, nơi cất giữ: Phải thực hiện đúng chế độ, quy trình, nắm vững nội
quy, chế độ quản lý, bảo quản kho, nơi cất giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ
trợ đảm bảo an toàn, không để mất, hư hỏng.
5. Đối tượng, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục tiếp
nhận và quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ do tổ chức, doanh nghiệp, cá
nhân nước ngoài tặng, cho, viện trợ
Đây là điểm mới của Luật, bổ sung quy định về đối
tượng, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục tiếp nhận và quản lý, sử dụng vũ khí,
công cụ hỗ trợ do tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài tặng, cho, viện trợ nhằm tạo cơ chế pháp lý để cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp của
Việt Nam được tiếp nhận vũ khí, công cụ hỗ trợ do tổ chức, doanh nghiệp, cá
nhân nước ngoài tặng, cho, viện trợ; đồng thời, quản lý chặt chẽ số vũ khí do tổ chức,
doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài tặng, cho,
viện trợ, cụ thể như sau:
- Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có chức
năng nghiên cứu, chế tạo, sản xuất vũ khí, công cụ hỗ trợ hoặc cơ quan, tổ chức được trang bị vũ khí, công cụ hỗ
trợ theo quy định của Luật này được tiếp nhận vũ khí, công cụ hỗ trợ do tổ
chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài tặng, cho, viện trợ.
- Việc tiếp nhận
vũ khí, công cụ hỗ trợ phải bảo đảm các điều kiện sau:
+ Tổ chức, doanh
nghiệp, cá nhân nước ngoài tặng, cho, viện trợ vũ khí, công cụ hỗ trợ phải bảo
đảm phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên và thỏa thuận quốc tế có liên quan.
+ Vũ khí, công cụ
hỗ trợ tiếp nhận phải bảo đảm phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam, các điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
+ Chỉ được tiếp
nhận vũ khí, công cụ hỗ trợ để nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, trang bị, sử dụng
hoặc trưng bày, triển lãm theo quy định của Luật.
+ Vũ khí, công cụ
hỗ trợ tiếp nhận phải rõ nguồn gốc, xuất xứ và bảo đảm phù hợp tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Bộ
Quốc phòng có thẩm quyền, ban hành thủ tục tiếp nhận và quản lý, sử dụng vũ
khí, công cụ hỗ trợ đối với đối tượng thuộc phạm vi quản lý. Đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp không thuộc
phạm vi quản lý sau khi tiếp nhận vũ khí, công cụ hỗ trợ để sử dụng thì phải
làm thủ tục đề nghị cơ quan Công an có thẩm quyền cấp giấy phép sử dụng hoặc
đăng ký, khai báo theo quy định tại các Điều 21, Điều 26 hoặc Điều 55 của
Luật này.
6. Quản lý, sử dụng vũ khí thuộc phạm vi Bộ Quốc phòng
6.1. Việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, kinh doanh, xuất
khẩu, nhập khẩu vũ khí
Việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa
chữa, xuất khẩu, nhập khẩu vũ khí phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh được thực
hiện theo quy định của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên
công nghiệp và quy định của Luật này. Tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc
phòng được nghiên cứu, chế tạo, sản xuất vũ khí như sau:
- Vũ khí quân dụng bao gồm:
+ Súng cầm tay, súng vác vai, vũ khí hạng
nhẹ, vũ khí hạng nặng, đạn sử dụng cho các loại vũ khí này; các loại bom, mìn,
lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi và vũ khí khác thuộc danh mục do Bộ Quốc phòng ban
hành, trang bị cho LLVT và các lực lượng khác theo quy định của Luật này.
+ Súng bắn đạn ghém, súng nén khí, súng
nén hơi, đạn sử dụng cho các loại súng này thuộc danh mục do Bộ Công an ban
hành.
+ Vũ khí quy định tại điểm a khoản 4 Điều
2 (Súng cầm tay, súng vác vai, vũ khí hạng
nhẹ, vũ khí hạng nặng, đạn sử dụng cho các loại vũ khí này; các loại bom, mìn,
lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi và vũ khí khác thuộc danh mục do Bộ Quốc phòng ban
hành) trang bị cho LLVT và các lực lượng khác để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ
an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội…
- Vũ khí thô sơ bao gồm: Kiếm, giáo, mác,
thương, dao găm, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi
tiêu thuộc danh mục do Bộ Công an ban hành; Dao có tính sát thương cao là dao
sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành, sử dụng với mục đích để thực
hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ
quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ, trừ trường hợp sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng,
sức khỏe con người trái pháp luật (đây
là điểm mới)
- Vũ khí thể thao bao gồm:
Súng trường hơi, súng trường bắn đạn nổ, súng ngắn hơi, súng ngắn bắn đạn nổ,
súng thể thao bắn đạn sơn, súng bắn đĩa bay, đạn sử dụng cho các loại súng này
thuộc danh mục do Bộ Công an ban hành được trang bị, sử dụng để luyện tập, thi
đấu thể thao.
6.2. Đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng: Quân đội nhân
dân; Dân quân tự vệ; Cảnh sát biển; Công an nhân dân; Cơ yếu; Cơ quan điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kiểm lâm, Kiểm ngư; An ninh hàng không; Hải
quan cửa khẩu, lực lượng chuyên trách phòng, chống buôn lậu của Hải quan; lực
lượng phòng, chống tội phạm về ma túy của Hải quan.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng căn cứ tính chất, yêu cầu,
nhiệm vụ quy định việc trang bị vũ khí quân dụng đối với đối tượng thuộc Quân
đội nhân dân, Dân quân tự vệ, Cảnh sát biển và Cơ yếu thuộc phạm vi quản
lý của Bộ Quốc phòng.
6.3. Nguyên tắc sử dụng vũ khí
quân dụng
- Khi thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc
phòng, bảo vệ Tổ quốc, việc sử dụng vũ khí quân dụng thực hiện theo quy định
của pháp luật về quốc phòng.
- Khi thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an
ninh, trật tự, an toàn xã hội, việc sử dụng vũ khí quân dụng phải tuân theo
nguyên tắc sau đây:
+ Phải căn cứ vào tình huống, tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà đối tượng thực hiện để quyết định việc sử
dụng vũ khí quân dụng.
+ Chỉ sử dụng vũ khí quân dụng khi
không còn biện pháp nào khác để ngăn chặn hành vi của đối tượng và sau khi đã
cảnh báo mà đối tượng không tuân theo.
+ Việc sử dụng vũ khí quân dụng không
kịp thời sẽ đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người thi hành
công vụ, người khác hoặc có thể gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
khác thì được sử dụng ngay.
+ Không sử dụng vũ khí quân dụng khi
biết rõ đối tượng là phụ nữ, người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi, người
mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp những người này sử dụng vũ khí, vật
liệu nổ tấn công hoặc chống trả, đe dọa tính mạng, sức khỏe của người thi hành
công vụ hoặc người khác;
+ Trong mọi trường hợp, người sử dụng
vũ khí quân dụng phải hạn chế thiệt hại do việc sử dụng vũ khí quân dụng gây
ra.
- Khi thực hiện
nhiệm vụ độc lập, việc sử dụng vũ khí quân dụng phải tuân thủ quy định tại
khoản 2 Điều này và Điều 23 của Luật này, quy định khác của
pháp luật có liên quan.
Khi thực hiện
nhiệm vụ có tổ chức, việc sử dụng vũ khí quân dụng phải tuân theo mệnh lệnh của
người có thẩm quyền. Người ra mệnh lệnh phải tuân thủ quy định tại khoản 2 Điều
này và Điều 23 của Luật này, quy định khác của pháp luật có
liên quan và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
- Người được giao sử dụng vũ khí quân
dụng không phải chịu trách nhiệm về thiệt hại khi việc sử dụng vũ khí
quân dụng đã tuân thủ đúng quy định khi thực hiện nhiệm vụ độc lập hoặc thực
hiện nhiệm vụ có tổ chức; trường hợp sử dụng vũ khí quân dụng vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng, gây thiệt hại rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp
thiết, lợi dụng hoặc lạm dụng việc sử dụng vũ khí quân dụng để xâm phạm tính
mạng, sức khỏe con người, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
6.4. Các trường hợp nổ súng quân dụng khi thực hiện nhiệm vụ độc lập để
bảo đảm an ninh, trật tự
- Người
thi hành nhiệm vụ độc lập phải cảnh báo bằng hành động, mệnh lệnh lời nói hoặc
bắn chỉ thiên trước khi nổ súng vào đối tượng trong trường hợp sau đây:
+ Đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật
liệu nổ, vũ lực hoặc công cụ, phương tiện khác tấn công hoặc chống trả đe dọa
tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc người khác.
+ Đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật
liệu nổ, vũ lực hoặc công cụ, phương tiện khác gây rối trật tự công cộng đe dọa
tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.
+ Người đang bị truy nã, bị bắt, người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam, người đang bị áp giải, xét
xử hoặc chấp hành hình phạt tù đang chống trả, đe dọa tính mạng, sức khỏe của
người thi hành công vụ hoặc người khác; đối tượng đang đánh tháo người bị dẫn
giải, người bị giam, giữ, áp giải do phạm tội nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm
trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tái phạm nguy hiểm.
+ Khi biết rõ đối tượng đang thực hiện
hành vi phạm tội nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng.
+ Được nổ súng vào phương tiện giao
thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông đường thủy nội địa, trừ phương
tiện giao thông của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự nước
ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế để dừng phương tiện đó trong trường hợp
đối tượng điều khiển phương tiện đó tấn công hoặc đe dọa trực tiếp đến tính
mạng người thi hành công vụ hoặc người khác; khi biết rõ phương tiện do đối tượng
phạm tội điều khiển cố tình chạy trốn, trừ trường hợp trên phương tiện có chở
người hoặc có con tin; khi biết rõ trên phương tiện chở đối tượng phạm tội hoặc
vũ khí, vật liệu nổ trái phép, tài liệu phản động, bí mật nhà nước, ma túy, bảo
vật quốc gia cố tình chạy trốn, trừ trường hợp trên phương tiện có chở người
hoặc có con tin.
- Người thi hành nhiệm vụ độc lập được nổ súng vào đối
tượng không cần cảnh báo trong trường hợp sau đây:
+ Đối tượng đang
sử dụng vũ khí, vật liệu nổ trực tiếp thực hiện hành vi khủng bố, bạo loạn,
giết người, bắt cóc con tin hoặc đang trực tiếp sử dụng vũ khí, vật liệu nổ
chống lại việc bắt giữ khi vừa thực hiện xong hành vi phạm tội đó.
+ Đối tượng sản xuất, mua bán, tàng
trữ, vận chuyển, chiếm đoạt hoặc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trực
tiếp sử dụng vũ khí, vật liệu nổ chống lại việc bắt giữ.
+ Đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật
liệu nổ tấn công hoặc uy hiếp trực tiếp đến an toàn của đối tượng cảnh vệ, công
trình quan trọng về an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng được bảo vệ theo quy
định của pháp luật.
+ Đối tượng đang sử dụng vũ khí, vật
liệu nổ, vũ lực đe dọa trực tiếp đến tính mạng của người thi hành công vụ hoặc
người khác.
+ Đối tượng đang trực tiếp thực hiện
hành vi cướp vũ khí quân dụng của người thi hành công vụ.
+ Được nổ súng vào động vật đang đe dọa
trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc người khác.
+ Ngăn chặn, vô
hiệu hóa phương tiện không người lái trực tiếp tấn công, đe dọa tấn công hoặc
xâm phạm nơi cấm, khu vực cấm, khu vực bảo vệ, mục tiêu bảo vệ.
6.5. Đối tượng được trang bị, sử dụng và thủ tục trang
bị, cấp giấy phép sử dụng vũ khí thể thao: Đối tượng thuộc Quân đội nhân dân;
Dân quân tự vệ; Cảnh sát biển; Câu lạc bộ, cơ sở đào tạo, huấn luyện thể thao
có giấy phép hoạt động; Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh; Cơ
quan, tổ chức, doanh nghiệp khác được thành lập, cấp phép hoạt động trong luyện
tập, thi đấu thể thao.
Vũ
khí thể thao được quy định sử dụng như sau:
- Được cơ
quan có thẩm quyền cấp phép và sử dụng trong luyện tập, thi đấu thể thao
tại trường bắn hoặc địa điểm luyện tập, thi đấu, được cảnh giới và có biện pháp
bảo đảm an toàn; tuân thủ giáo án luyện tập, luật thi đấu thể thao và điều lệ
giải.
- Phải được
kiểm tra an toàn trước, trong và sau khi luyện tập, thi đấu.
- Được giao
cho vận động viên, huấn luyện viên, học viên hoặc hội viên thuộc đối tượng trên
để luyện tập, thi đấu thể thao tại trường bắn hoặc địa điểm luyện tập, thi đấu.
Thủ
tục trang bị, cấp giấy phép được thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng và cơ quan này có thẩm quyền cấp các loại giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng; sử dụng vũ khí thể thao;
mua vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao. Mệnh lệnh
vận chuyển vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao đối với đối tượng thuộc phạm vi
quản lý.
7. Quản lý, sử dụng vật liệu nổ thuộc phạm
vi Bộ Quốc phòng
7.1. Việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, bảo quản, sử dụng vật liệu nổ quân
dụng
Được thực hiện đối
với tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện theo quy định của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên
công nghiệp và quy định của Luật này và phải bảo đảm đủ điều kiện sau
đây:
- Được Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, bảo quản vật liệu nổ
quân dụng.
- Thiết lập hệ
thống tổ chức quản lý, kỹ thuật an toàn do người chỉ huy trực tiếp điều hành,
chỉ đạo và phân công người có đủ trình độ, kinh nghiệm chịu trách nhiệm thực
hiện công tác kỹ thuật an toàn tại mỗi bộ phận, vị trí có nguy cơ cao về sự cố,
tai nạn cháy, nổ.
- Có phương
án bảo đảm an ninh, trật tự, phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường cho cơ
sở nghiên cứu, sản xuất, hệ thống kho, nơi bốc dỡ, phương tiện vận chuyển và
định kỳ tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Kho chứa vật
liệu nổ quân dụng phải thiết kế, xây dựng theo quy định.
7.2. Việc vận chuyển vật liệu nổ quân dụng
Phải đảm bảo theo
quy định:
- Phải có giấy phép hoặc mệnh lệnh vận chuyển vật liệu nổ quân dụng của cơ
quan, người có thẩm quyền và bảo đảm bí mật, an toàn;
- Sử dụng phương tiện chuyên dùng bảo đảm điều
kiện vận chuyển vật liệu nổ quân dụng và bảo đảm an toàn, phòng
cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường;
- Không được chở vật liệu nổ quân dụng và người trên cùng một phương tiện,
trừ người điều khiển phương tiện, người áp tải;
- Không dừng, đỗ phương tiện vận chuyển vật liệu nổ quân dụng ở
nơi đông người, khu vực dân cư, cửa hàng xăng dầu, nơi có công trình quan trọng
về quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Trường hợp cần nghỉ qua
đêm hoặc do sự cố mà không đủ lực lượng bảo vệ thì người điều khiển phương
tiện, người áp tải phải thông báo ngay cho cơ quan quân sự hoặc cơ quan Công an
nơi gần nhất để phối hợp bảo vệ khi cần thiết.
Bộ Quốc phòng có
thẩm quyền cấp giấy phép sử dụng vật liệu nổ. Mệnh lệnh vận
chuyển vật liệu nổ công nghiệp đối với tổ chức, doanh nghiệp thuộc phạm vi quản
lý.
7.3. Việc sử dụng, sản xuất vật liệu nổ công nghiệp
- Việc sử dụng vật liệu nổ công nghiệp được thực
hiện:
+ Chỉ được mua vật liệu nổ công nghiệp có trong danh mục vật liệu nổ
công nghiệp được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam từ doanh
nghiệp kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp.
+ Vật liệu nổ công nghiệp không sử dụng hết hoặc không còn nhu cầu sử dụng
phải bán lại cho doanh nghiệp kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp hoặc tiêu huỷ
theo quy định của Bộ trưởng Bộ
Công Thương.
+ Bổ nhiệm người chỉ huy nổ mìn; thực hiện đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật về an toàn trong sử dụng vật liệu nổ công nghiệp khi tiến hành nổ mìn.
+ Lập phương án nổ mìn phù hợp với quy mô sản xuất, điều kiện tự nhiên,
điều kiện xã hội nơi nổ mìn. Trong phương án nổ mìn phải quy định cụ thể các
biện pháp an toàn, bảo vệ, canh gác chống xâm nhập trái phép khu vực nổ mìn;
thủ tục cảnh báo, khởi nổ; thủ tục bảo quản và thủ tục giám sát việc tiêu thụ,
tiêu hủy vật liệu nổ công nghiệp tại nơi nổ mìn và nội dung khác theo tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Trường hợp nổ mìn trong khu vực dân cư, cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh, khu vực có di tích lịch sử - văn hóa, bảo tồn thiên nhiên,
công trình quốc phòng, an ninh hoặc công trình quan trọng khác của quốc gia,
khu vực bảo vệ khác theo quy định của pháp luật, phương án nổ mìn phải được cơ
quan cấp giấy phép sử dụng và sự đồng ý bằng văn bản của UBND cấp tỉnh hoặc cơ
quan quản lý trên cơ sở giám sát, đánh giá các ảnh hưởng nổ mìn đối với công
trình, đối tượng cần bảo vệ nằm trong phạm vi ảnh hưởng của nổ mìn.
- Việc sản xuất vật
liệu nổ công nghiệp được thực hiện:
+ Do tổ chức, doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh
nghiệp do doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được Thủ tướng Chính
phủ giao nhiệm vụ theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương, Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng.
+ Bảo đảm điều kiện về an ninh, trật tự; người có liên quan trực tiếp
đến sản xuất vật liệu nổ công nghiệp phải có trình độ chuyên môn phù hợp và
được huấn luyện kỹ thuật an toàn về vật liệu nổ công nghiệp, huấn luyện nghiệp
vụ về phòng cháy và chữa cháy, ứng phó sự cố trong hoạt động liên quan đến sản
xuất vật liệu nổ công nghiệp.
+ Có đủ phương tiện, thiết bị đo lường phù hợp để kiểm tra, giám sát các
thông số kỹ thuật và phục vụ công tác kiểm tra chất lượng nguyên liệu, thành
phẩm trong quá trình sản xuất; có nơi thử nghiệm riêng biệt, an toàn theo tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
+ Tổ chức, doanh nghiệp sản xuất vật liệu nổ công nghiệp chỉ được mua vật
liệu nổ phục vụ cho nghiên cứu, sản xuất thuốc nổ và phụ kiện nổ; bán sản phẩm đúng
chủng loại cho doanh nghiệp kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp và phân loại,
ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật
8. Quản lý, sử dụng
tiền chất thuốc nổ
Đối
với việc vận chuyển tiền chất thuốc nổ, Bộ Quốc phòng quy định việc cấp, điều
chỉnh, thu hồi và tạm ngừng cấp mệnh lệnh vận chuyển tiền chất thuốc nổ đối với
tổ chức, doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng và doanh nghiệp có cổ phần,
vốn góp chi phối của tổ chức, doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng. Điều 6
Thông tư số 98/2024/TT-BQP (15/11/2024) của Bộ Quốc phòng
đã quy định về việc cấp, điều chỉnh, thu hồi và tạm ngừng cấp Mệnh lệnh
vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ như sau:
- Tổng Tham mưu trưởng cấp, điều chỉnh, thu hồi Mệnh
lệnh vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ cho các
đối tượng sau:
+ Doanh nghiệp nhà
nước trực thuộc Bộ Quốc phòng và doanh nghiệp có
cổ phần, vốn góp chi phối
do doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Quốc phòng
làm đại diện chủ sở hữu;
+ Cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp trực
thuộc Bộ Quốc phòng không thuộc trường hợp quy định tại khoản
2 Điều này và các doanh nghiệp có
cổ phần, vốn góp chi phối
do Bộ Quốc phòng làm đại diện chủ sở hữu;
+ Cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng
phương tiện, người điều khiển phương tiện, người áp
tải thuộc các trường hợp phát
sinh không có trong Kế hoạch đã được
Bộ Tổng Tham mưu phê duyệt theo quy định tại các khoản 3, 4 Điều 5 Thông tư này.
- Chủ nhiệm các tổng
cục, Tổng cục trưởng Tổng cục II; Tư lệnh các quân khu, quân đoàn, quân
chủng, binh chủng, binh đoàn, Bộ Tư
lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ đội Biên phòng, Bộ Tư
lệnh Cảnh sát biển, Bộ Tư lệnh 86; Giám đốc,
Hiệu trưởng các học viện, nhà trường
trực thuộc Bộ Quốc phòng căn cứ Kế hoạch vận chuyển được Bộ
Tổng Tham mưu phê duyệt theo quy định tại Điều 5 Thông
tư này,
thực hiện cấp, điều chỉnh, thu hồi Mệnh lệnh vận chuyển vật
liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ cho các
đối tượng sau:
+ Cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp thuộc
quyền quản lý;
+ Doanh nghiệp có
cổ phần, vốn góp chi phối
của doanh nghiệp nhà nước thuộc quyền quản lý.
- Hiệu lực của Mệnh lệnh vận chuyển vật liệu nổ công
nghiệp, tiền chất thuốc nổ do người chỉ huy cơ quan, đơn vị có
thẩm quyền cấp Mệnh lệnh quyết định nhưng không
quá 30 ngày và có giá trị cho một lượt vận chuyển.
9. Quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ
9.1. Việc kinh
doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, sửa chữa công cụ hỗ trợ; quản lý, huấn luyện và sử
dụng động vật nghiệp vụ
- Việc kinh doanh
công cụ hỗ trợ phải bảo đảm các điều kiện:
+ Do doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật thực hiện.
+ Bảo đảm điều kiện về an ninh, trật tự, phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ
môi trường.
+ Kho, phương tiện vận chuyển, thiết bị, dụng cụ phục vụ kinh doanh phải
phù hợp, bảo đảm điều kiện về bảo quản, vận chuyển công cụ hỗ trợ, phòng cháy
và chữa cháy.
+ Người quản lý, người phục vụ có liên quan trực tiếp đến kinh doanh phải
có trình độ chuyên môn phù hợp và được huấn luyện về quản lý công cụ hỗ trợ,
huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy và chữa cháy.
+ Chỉ được kinh doanh công cụ hỗ trợ bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
và theo giấy phép kinh doanh.
- Việc xuất khẩu,
nhập khẩu công cụ hỗ trợ thực hiện theo quy định:
+ Tổ chức, doanh nghiệp được phép sản xuất, kinh doanh công cụ hỗ trợ thì
được xuất khẩu, nhập khẩu công cụ hỗ trợ.
+ Người quản lý, người phục vụ có liên quan trực tiếp đến xuất khẩu, nhập
khẩu công cụ hỗ trợ phải có trình độ chuyên môn phù hợp và được huấn luyện về
quản lý công cụ hỗ trợ, phòng cháy và chữa cháy.
+ Công cụ hỗ trợ xuất khẩu, nhập khẩu phải bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật và chủng loại, nhãn hiệu, số hiệu, ký hiệu, nước sản xuất, năm sản xuất,
hạn sử dụng trên từng công cụ hỗ trợ.
- Đối với việc quản lý, huấn luyện và sử dụng động vật nghiệp vụ thuộc phạm
vi quản lý do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định.
9.2. Đối tượng được trang bị công
cụ hỗ trợ
- QĐND; Dân quân tự vệ; Cảnh sát biển; CAND; Cơ yếu.
- Cơ quan điều tra của VKSND tối cao; Cơ quan thi hành án dân sự.
- Kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, Kiểm ngư, lực lượng trực
tiếp thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thủy sản.
- Hải quan cửa khẩu, lực lượng chuyên trách phòng, chống buôn lậu của Hải
quan, lực lượng phòng, chống tội phạm về ma túy của Hải quan.
- Đội kiểm tra của lực lượng Quản lý thị trường.
- An ninh hàng không, lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thanh tra
chuyên ngành giao thông vận tải.
- Lực lượng bảo vệ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ bảo vệ.
- Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở.
- Câu lạc bộ, cơ sở đào tạo, huấn luyện thể thao có giấy phép hoạt động.
- Cơ sở cai nghiện ma túy.
Đối tượng khác có nhu cầu trang bị công cụ hỗ trợ thì căn cứ tính chất, yêu
cầu, nhiệm vụ do Bộ Công an quyết định.
9.3 Bộ Quốc phòng có thẩm quyền cấp
các loại giấy phép kinh doanh công cụ hỗ trợ; xuất khẩu,
nhập khẩu công cụ hỗ trợ; mua công cụ hỗ trợ; sử dụng, đăng ký, khai báo công cụ
hỗ trợ đối với đối tượng thuộc Quân đội nhân dân, Dân quân
tự vệ, Cảnh sát biển, Cơ yếu và câu lạc bộ, cơ sở đào tạo, huấn luyện thể thao
thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng. Giấy phép sửa
chữa công cụ hỗ trợ. Làm thủ tục trang bị công cụ hỗ trợ và thủ tục cấp mệnh lệnh vận chuyển công cụ hỗ trợ đối với đối
tượng thuộc phạm vi quản lý.
10. Tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, thanh lý, tiêu hủy vũ khí, vật
liệu nổ, công cụ hỗ trợ
10.1. Nguyên tắc tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, thanh lý,
tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thông báo, giao nộp vũ khí, vật liệu nổ,
công cụ hỗ trợ cho cơ quan quân sự, cơ quan Công an hoặc đơn vị Quân đội nơi
gần nhất trong trường hợp không thuộc đối tượng trang bị, sử dụng theo quy định
của pháp luật mà có từ bất kỳ nguồn nào hoặc phát hiện, thu nhặt được.
- Phải bảo đảm an toàn và hạn chế ảnh hưởng đến môi trường. Việc vận chuyển
vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ tiếp nhận, thu gom phải sử dụng phương tiện
chuyên dùng hoặc phương tiện khác nhưng phải bảo đảm an toàn.
- Phải được tiến hành thường xuyên và thông qua các đợt vận động.
- Vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ còn giá trị sử dụng sau khi được phân
loại sẽ được đưa vào sử dụng theo quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
- Người làm công tác tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, thanh lý,
tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ phải được tập huấn về chuyên môn,
nghiệp vụ và được trang bị các thiết bị bảo vệ để bảo đảm an toàn.
10.2. Các trường hợp tiếp nhận, thu gom vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
- Vũ khí, vật liệu
nổ, công cụ hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân không được trang bị hoặc sở
hữu theo quy định của pháp luật.
- Vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ do cơ quan chức năng phát hiện, thu
giữ hoặc có liên quan đến vụ án đã được cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy
định.
- Vũ khí, vật liệu
nổ, công cụ hỗ trợ sau chiến tranh còn tồn tại ở ngoài xã hội hoặc do cơ quan,
tổ chức, cá nhân phát hiện nhưng không xác định được cơ quan, tổ chức, cá nhân
có trách nhiệm quản lý hoặc sở hữu.
10.3. Thẩm quyền tiếp nhận, thu gom, phân loại, thanh lý, tiêu hủy vũ khí,
vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
- Cơ quan quân sự,
cơ quan công an, đơn vị quân đội được tiếp nhận, thu gom vũ khí, vật liệu nổ,
công cụ hỗ trợ.
- Cơ quan quân sự
cấp huyện, cơ quan công an cấp huyện và đơn vị quân đội cấp trung đoàn trở lên
có trách nhiệm phân loại và tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đã
tiếp nhận, thu gom.
- Cơ quan, đơn vị
cấp trên trực tiếp của cơ quan quân sự, công an cấp huyện, đơn vị quân đội cấp
trung đoàn trở lên có thẩm quyền quyết định thanh lý vũ khí, vật liệu nổ, công
cụ hỗ trợ.
- Vũ khí, vật liệu
nổ, công cụ hỗ trợ là vật chứng hoặc liên quan đến vụ án hình
sự được xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
10.4. Tổ chức giao nhận vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
- Trường hợp thu gom vũ khí hạng nặng, bom, mìn, lựu đạn, quả nổ, ngư lôi,
thủy lôi, vật liệu nổ, đầu đạn tên lửa, đạn pháo và đầu đạn pháo các loại hoặc
vũ khí khác cần phải có kỹ thuật chuyên ngành xử lý thì cơ quan Công an, cơ
quan quân sự hoặc đơn vị Quân đội nơi tiếp nhận thông tin
phải tổ chức bảo vệ và thông báo ngay cho cơ quan quân sự cấp huyện, đơn vị
Quân đội cấp trung đoàn trở lên để tổ chức thu gom, xử lý theo thẩm quyền.
- Trường hợp cơ quan, đơn vị tiếp nhận, thu gom cho
rằng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ có dấu hiệu liên quan đến hoạt động
phạm tội thì phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp xử lý
theo quy định của pháp luật.
- Cơ quan công an
cấp xã, cơ quan quân sự cấp xã sau khi tiếp nhận, thu gom vũ khí, công cụ hỗ
trợ phải lập thống kê, bàn giao cho cơ quan cấp huyện.
10.5. Trình tự, thủ tục phân loại, thanh lý và tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ,
công cụ hỗ trợ
- Trình tự, thủ tục phân loại, thanh lý vũ khí, vật liệu
nổ, công cụ hỗ trợ:
+ Sau khi tiếp
nhận, thu gom vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, cơ quan quân sự cấp huyện,
cơ quan Công an cấp huyện, đơn vị Quân đội cấp trung đoàn trở lên tiến hành
phân loại và báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp quyết định đưa vào sử dụng hoặc
tiêu hủy.
+ Cơ quan cấp trên
khi nhận được báo cáo phải xem xét và quyết định cho phép đưa vào sử dụng hoặc
tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
- Trình tự, thủ tục tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ
hỗ trợ:
+ Sau khi có quyết định tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, cơ
quan quân sự cấp huyện, cơ quan Công an cấp huyện, đơn vị Quân đội cấp trung
đoàn trở lên phải thành lập Hội đồng tiêu hủy và xây dựng phương án tiêu hủy.
Thành phần gồm: đại diện cơ quan tiêu hủy là Chủ tịch Hội đồng; đại diện cơ
quan kỹ thuật chuyên ngành và cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về môi trường
cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có địa điểm tiêu hủy là thành viên Hội
đồng. Phương án tiêu hủy phải bảo đảm an toàn, hạn chế ảnh hưởng đến môi
trường.
+ Sau khi tiêu
hủy, phải tiến hành kiểm tra tại hiện trường, bảo đảm tất cả vũ khí, vật liệu
nổ, công cụ hỗ trợ tiêu hủy đã bị làm mất khả năng phục hồi tính năng, tác
dụng. Kết quả tiêu hủy phải được lập thành biên bản, có xác nhận của Chủ tịch
và các thành viên Hội đồng.
- Trường hợp vũ
khí, vật liệu nổ có nguy cơ mất an toàn, cần xử lý khẩn cấp thì người đứng đầu
cơ quan quân sự cấp huyện, cơ quan Công an cấp huyện, đơn vị Quân đội cấp trung
đoàn trở lên quyết định tiêu hủy ngay; sau khi tiêu hủy phải báo cáo ngay cơ
quan cấp trên bằng văn bản.
11. Trường hợp thu hồi vũ khí, vật liệu nổ quân
dụng, công cụ hỗ trợ và giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử
dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ
- Thu hồi vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ trang bị cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong trường
hợp:
+ Không còn nhu cầu sử dụng, hết hạn sử dụng hoặc
hư hỏng không còn khả năng sử dụng vũ khí,
vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ.
+ Không thuộc đối tượng được trang bị vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công
cụ hỗ trợ theo quy định.
- Thu hồi vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ đối với tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh,
sửa chữa vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ trong trường hợp:
+ Tổ chức, doanh nghiệp chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh,
sửa chữa vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ.
+ Cơ quan có thẩm quyền đã thu hồi giấy phép kinh doanh công cụ hỗ trợ.
- Thu hồi giấy phép
sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong trường hợp:
+ Tổ chức, doanh nghiệp không còn nhu cầu sử dụng
hoặc vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ bị mất, hết hạn sử dụng, hư
hỏng không còn khả năng sử dụng hoặc không thuộc đối tượng được trang bị vũ
khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ theo quy định.
+ Giấy phép sử dụng cấp không đúng thẩm quyền.
- Thu hồi giấy phép kinh doanh công cụ hỗ trợ trong trường hợp:
+ Doanh nghiệp kinh doanh công cụ hỗ trợ giải thể; chuyển đổi,
chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và không còn hoạt động kinh doanh công
cụ hỗ trợ.
+ Doanh nghiệp không kinh doanh công cụ hỗ trợ trong thời
gian 01 năm kể từ ngày được cấp giấy phép kinh
doanh.
+ Doanh nghiệp không đủ điều kiện kinh doanh công
cụ hỗ trợ theo quy định.
+ Tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, sử dụng vật liệu
nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ giải thể; chuyển đổi, chia, tách, hợp nhất,
sáp nhập và không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, sử dụng vật
liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ.
+ Tổ chức, doanh nghiệp không bảo đảm điều kiện về sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, sử dụng vật liệu nổ
công nghiệp, tiền chất thuốc nổ; không đáp ứng đầy đủ
hoặc không thực hiện đúng nội dung trong giấy phép, giấy chứng nhận.
+ Doanh nghiệp không kinh doanh vật liệu nổ công
nghiệp, tiền chất thuốc nổ trong thời gian 02 năm kể từ ngày
được cấp giấy phép kinh doanh.
- Giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí, vật
liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ hết hạn sử dụng, hư hỏng phải giao
nộp cho cơ quan có thẩm quyền.
Phần thứ ba
XỬ LÝ CÁC
HÀNH VI VI PHẠM VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CẤP ỦY, NGƯỜI CHỈ HUY VÀ QUÂN NHÂN TRONG
QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ, VẬT LIỆU NỔ, CÔNG CỤ HỖ TRỢ
I. XỬ LÝ CÁC HÀNH
VI VI PHẠM
1. Xử lý vi phạm
hành chính
Điều 11 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP (31/12/2021) của
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự,
an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; cứu nạn,
cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình; tùy theo tính chất vi phạm, xử phạt tiền
từ 1.000.000 đồng - 40.000.000 đồng đối với các hành vi:
- Trao đổi, cho, tặng, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho
thuê, cầm cố vũ khí, công cụ hỗ trợ; chi tiết, cụm chi tiết vũ khí, công cụ hỗ
trợ hoặc phế liệu, phế phẩm vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
- Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép.
- Đào bới, tìm kiếm, thu gom trái phép vũ khí, vật liệu
nổ, công cụ hỗ trợ, phế liệu, phế phẩm vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
- Cưa, cắt, đục hoặc thực hiện các thao tác khác để tháo
bom, mìn, đạn, lựu đạn, quả nổ, ngư lôi, thủy lôi và các loại vũ khí khác trái
phép.
Ngoài ra, người vi phạm có thể bị áp dụng hình phạt bổ
sung (tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm), tước quyền sử dụng giấy phép,
giấy xác nhận đăng ký… hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (khắc phục tình
trạng ô nhiễm môi trường, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp, buộc nộp lại giấy
phép, giấy xác nhận, giấy chứng nhận, chứng chỉ về vũ khí, công cụ hỗ trợ…).
2. Xử lý vi phạm kỷ
luật
Điều 29, Điều 30 Thông tư số 143/2023/TT-BQP
(15/02/2024) của Bộ Quốc phòng quy định xử lý kỷ luật
trong QĐND Việt Nam.
- Quân nhân có hành vi vi phạm về quản lý, sử dụng vũ khí
quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự sai quy định để xảy ra mất an toàn về
người, vũ khí, trang bị, phương tiện, tài sản thì bị kỷ luật từ cảnh cáo, hạ
bậc lương đến giáng chức, cách chức. Kỷ luật giáng cấp bậc quân hàm, tước
quân hàm sĩ quan, tước danh hiệu quân nhân, buộc thôi việc nếu vi phạm là chỉ
huy; đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm; là người có chuyên môn, nghiệp vụ về
vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự. Quân nhân có thể bị xử lý về hình sự nếu vi
phạm Điều 412 BLHS.
- Quân nhân vô ý làm mất hoặc làm hư
hỏng vũ khí quân dụng, trang bị, phương tiện kỹ thật quân sự thì bị kỷ luật từ
khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương đến giáng chức, cách chức. Kỷ luật từ giáng
cấp bậc quân hàm, tước quân hàm sĩ quan, tước danh hiệu quân nhân, buộc thôi
việc nếu vi phạm là chỉ huy; trong chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu; không có biện
pháp tích cực ngăn chặn. Quân nhân có thể bị xử lý về hình sự với hành vi vi
phạm tương ứng theo Điều 413, Điều 414 BLHS.
Lưu
ý: Không chuyển công tác đối với người bị phát hiện có hành
vi vi phạm chưa được xử lý theo quy định. Người thực hiện hành vi vi phạm kỷ
luật có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, đơn vị không giảm quân số quản lý mà
chuyển hồ sơ vi phạm sang cơ quan điều tra trong Quân đội để xử lý theo quy
định của pháp luật; trường hợp bị tòa án xét xử và tuyên phạt cải tạo không
giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì chỉ giải quyết chế độ, chính
sách sau khi bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật và đã xử
lý hình thức kỷ luật tương ứng quy định tại Thông tư số 143/2023/TT-BQP.
3. Xử
lý về hình sự
BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định tội phạm liên quan đến quản lý,
sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, cụ thể như sau:
3.1. Trường
hợp thực hiện hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ
thuật quân sự hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ thì có thể bị phạt tù từ 01 -
20 năm hoặc phạt tù chung thân theo quy định tại Điều 304; Điều 305 BLHS. Ngoài ra, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng -
50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 - 05 năm.
Ví dụ (vụ án
do TAQS Khu vực Quân khu xét xử):
- Ngày 21/9/2023, Nguyễn Văn Hoàn (dân quân tự vệ) lợi dụng Bộ
CHQS tỉnh Vĩnh phúc không có điều kiện kiểm tra, giám sát công tác kiểm đếm, thu hồi đạn sau
khi bắn, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 viên đạn
12,7mm và cho Nguyễn Khương Duy. Bị cáo Hoàn bị xử phạt 18 tháng tù nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng; bị cáo Duy bị xử phạt 15 tháng tù
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội chiếm đoạt, tàng
trữ trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 304 BLHS.
- Ngày
18/02/2024, Giàng A Lù (dân thường) điều khiển xe mô tô cá nhân đến Ban CHQS xã
Làng Nhì, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, đột nhập vào bên trong để thực hiện
hành vi trộm cắp 01 khẩu súng AK, 19 quả lựu đạn, 07 hộp tiếp đạn súng AK. Ngày
22/02/2024, bị cáo đến Công an huyện
Trạm Tấu tự thú, khai báo về hành vi và giao nộp lại các hiện vật. Bị cáo bị xử
phạt 36 tháng tù về tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều
304 BLHS.
3.2. Trường hợp thực hiện hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể
thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao
hoặc công cụ hỗ trợ; đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về tội
này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng - 07 năm theo Điều 306 BLHS. Người phạm tội
có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng - 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc
cấm cư trú từ 01 năm - 05 năm.
3.3. Người nào vi phạm quy định về quản
lý việc sản xuất, sửa chữa, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển,
mua bán hoặc tiêu hủy vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ,
công cụ hỗ trợ gây thiệt hại cho người khác (làm chết người, gây thương tích hoặc
thiệt hại về tài sản…) thì bị phạt tù từ 01 - 15 năm theo Điều 307 BLHS. Người
phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ 01 - 05 năm.
Trường hợp vi phạm
quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trong trường hợp có khả
năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị
phạt tiền từ 10.000.000 - 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03
năm hoặc phạt tù từ 03 tháng - 02 năm.
Ví dụ (vụ án do TAND tỉnh Lai Châu xét xử): Trên
địa bàn Quân khu, jồi 12h40 ngày 06/8/2021, tại mỏ đá Cang A thuộc địa phận xã
Pắc Ta, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, các bị cáo N, H, Q được giao nhiệm vụ
tiêu hủy vật liệu nổ theo phương án đã được phê duyệt. Nhưng các bị cáo đã thực
hiện không đúng quy định khi tiến hành tiêu hủy 01 lần toàn bộ 798,3 kg thuốc
nổ P113 bằng 175 kíp nổ điện, đã vi phạm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiêu
hủy vật liệu nổ công nghiệp và bảo quản tiền chất thuốc nổ theo Thông tư số
32/2019/TT-BCT (21/11/2019) của Bộ Công thương, dẫn đến hậu quả gây thiệt hại
156.730.939 đồng. N, H, Q bị TAND xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo tội “Vi
phạm quy định về quản lý vật liệu nổ”
theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 307 BLHS.
3.4. Trường hợp được giao vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí
thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ mà thiếu trách nhiệm để người sử dụng làm
chết người, gây thương tích hoặc gây thiệt hại về tài sản… đối với người khác)
thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng - 10 năm
theo Điều 308 BLHS. Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Ví dụ: Hành vi
phạm tội được thể hiện khi một người được giao
vũ khí quân dụng, súng bắn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ nhưng
không chấp hành đúng quy định về việc quản lý, trông giữ các đối tượng nói
trên, không để đúng nơi quy định, không kiểm tra sau khi sử dụng, không khóa
chốt an toàn, không tháo đạn, không để các vật liệu nổ cũng như các công cụ hỗ
trợ đúng nơi quy định để người khác sử dụng gây ra hậu quả nghiêm trọng.
3.5. Trường hợp vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng,
trang bị kỹ thuật quân sự thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ
06 tháng - 05 năm theo Điều 412 BLHS. Nếu phạm tội trong chiến đấu; trong khu
vực có chiến sự hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm (Ví dụ: Người
được trang bị vũ khí quân dụng đã sử dụng vũ khí đó không đúng mục đích như,
dùng súng đi bắn chim, cá, gây tiếng nổ... gây hậu quả nghiêm trọng thiệt hại
về người và tài sản)
3.6. Trường hợp hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân
dụng, trang bị kỹ thuật quân sự, nếu không thuộc trường hợp phá hoại cơ sở
vật chất, kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114 BLHS)
và phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều
303 BLHS) thì bị phạt tù từ 02 - 07 năm theo Điều 413 BLHS. Trường hợp phạm tội
trong chiến đấu; trong khu vực có chiến sự; lôi kéo người khác phạm tội hoặc
gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 07 - 12 năm. Trường hợp phạm tội gây
hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 - 20
năm hoặc tù chung thân.
Ví dụ: Hành vi được thực hiện bằng hình thức đập phá, đốt cháy, sử dụng hoá
chất để tạo ra hư hỏng. Hậu quả làm cho vũ khí quân dụng và trang bị kỹ thuật
quân sự hư hỏng một phần hoặc hư hỏng hoàn toàn, dẫn đến việc mất một phần hoặc
toàn bộ giá trị sử dụng của chúng mà không thể khôi phục lại.
3.7. Người nào được giao quản lý, được trang bị vũ
khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mà làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng
gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc
phạt tù từ 06 tháng - 05 năm theo Điều 414 BLHS. Phạm tội gây hậu quả rất
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 03 - 07 năm.
Ví dụ: Trung úy QNCN Đỗ Thế Hải -
Thủ kho quân khí Ban CHQS thành phố Việt Trì; không quản lý, kiểm tra sổ theo
dõi vũ khí của đơn vị theo quy định, đã dẫn đến hậu quả mất 06 khẩu súng ngắn
trong két sắt. TAQS Khu vực xử phạt bị cáo 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
về tội “Làm mất vũ khí quân
dụng”.
Ngoài ra, theo Quy định số
69-QĐ/TW (06/7/2022) của BCHTW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên: Trường hợp đảng
viên vi phạm pháp luật đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự, bị truy nã, bị toà án tuyên phạt từ hình phạt cải
tạo không giam giữ trở lên thì khai trừ ra khỏi Đảng, nếu hình phạt nhẹ hơn cải
tạo không giam giữ thì tuỳ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi
phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để thi hành kỷ luật tương xứng.
Kỷ luật đảng không thay thế
kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử phạt của pháp luật.
Đảng viên bị kỷ luật về đảng thì cấp uỷ quản lý đảng viên đó phải kịp thời chỉ
đạo hoặc đề nghị cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền,
trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật về Đảng, phải kỷ
luật về hành chính, đoàn thể theo quy định của cơ quan nhà nước, đoàn thể; bằng
một trong các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ),
khai trừ.
II.
TRÁCH NHIỆM CỦA CẤP ỦY, NGƯỜI CHỈ HUY
VÀ QUÂN NHÂN TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ, VẬT LIỆU NỔ, CÔNG CỤ HỖ TRỢ
1. Trách nhiệm của
cấp ủy, người chỉ huy
- Nâng cao tinh thần trách, trách
nhiệm của cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp; nghiêm túc
quán triệt, thực hiện quy định của Luật, Thông tư số 98/2024/TT-BQP (15/11/2024)
của Bộ Quốc phòng quy định về quản lý hoạt động vật liệu nổ công nghiệp, tiền
chất thuốc nổ thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Quốc phòng; Thông tư số 75/2024/TT-BCA (15/11/2024) của Bộ Công an
quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và
công cụ hỗ trợ; Thông tư số 23/2024/TT-BCA (07/11/2024) của Bộ Công thương quy
định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ thuộc thẩm quyền quản lý và các văn bản
thi hành khác.
- Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương
nơi đóng quân làm tốt công tác PBGDPL, vận động nhân dân nơi đóng quân thực
hiện công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ được giao
đúng quy định của pháp luật nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp
luật, kỷ luật; kết hợp xây dựng đơn vị an toàn gắn với xây dựng địa bàn an
toàn. Tăng cường công tác kiểm tra, nắm tình hình, kịp thời phát hiện và xử lý
các hành vi vi phạm theo thẩm quyền. Định kỳ, triển khai thực hiện nghiêm túc
việc sơ kết, tổng kết, đánh giá, báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm công tác quản
lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ theo đúng quy định.
- Thường xuyên
kiểm tra, rà soát, cập nhật và bổ sung hoàn thiện quy trình tổ chức thực hiện
việc quản lý, sử dụng, bảo quản vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; phối hợp
với các cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ, nhân viên
thuộc quyền nắm chắc quy định, quyền hạn, trách nhiệm được giao; đặc biệt chú
trọng các nội dung về bảo đảm an toàn trong quá trình sản xuất, thử nghiệm, vận
chuyển, bảo quản và sử dụng vũ khí, vật liệu nổ.
- Tập trung nghiên cứu, rà
soát các quy định Luật, văn bản hướng dẫn thi hành. Đặc
biệt, hiện nay không còn tổ chức công an, Ban CHQS cấp huyện nên cần tích cực
nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành để
đảm bảo đúng quy định.
2. Trách
nhiệm của quân nhân
- Tích cực tự giác học tập, nghiên cứu, thực hiện
nghiêm quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ
trợ. Phát huy vai trò gương mẫu của người cán bộ, đảng viên và quân nhân cách
mạng trong công tác PBGDPL thực hiện quy định của Luật và văn bản hướng dẫn của
các cấp có thẩm quyền.
- Thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được phân công trong quản lý, khai thác, sử dụng tài sản của quân đội đúng mục đích, yêu cầu. Kịp thời ngăn chặn, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, tham gia xây dựng đơn vị an toàn, vững mạnh toàn diện, xây dựng địa bàn đóng quân, góp phần xây dựng Quân đội “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc tình hình hiện nay”./.

0 Nhận xét