Thời gian qua, nạn sản xuất, buôn bán hàng giả ở nước ta diễn biến hết sức tinh vi và phức tạp. Hàng giả đã len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, từ miền quê đến thành thị, từ miền núi đến đồng bằng, không trừ một loại hàng nào. Nguy hiểm nhất là hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh... “Hàng giả, hàng nhái không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn trực tiếp đe dọa đến sức khỏe, tính mạng của người dân với tư cách là người tiêu dùng, làm suy giảm uy tín, thương hiệu của các doanh nghiệp chân chính, giảm niềm tin của người dân đối với hàng hóa trong nước, cản trở sự phát triển của nền kinh tế, thất thu ngân sách nhà nước, gây bất ổn xã hội và môi trường đầu tư”.

Chế tài đối với loại tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả hiện nay cũng xem là đủ mạnh. Hình phạt cao nhất với nhóm tội này là phạt tù chung thân (trước ngày 01/7/2025 hình phạt cao nhất với nhóm tội này là tử hình). Tuy nhiên, vì lợi nhuận siêu lớn mà các đối tượng phạm tội sẵn sàng chấp nhận và tìm mọi cách để sản xuất, buôn bán hàng giả, bất chấp sự nỗ lực của các cơ quan chức năng.

Trong phạm vi khuôn khổ rút gọn, bài viết này sẽ tập trung vào chế tài hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả và những khó khăn trong quá trình áp dụng vào thực tiễn.

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNG GIẢ, SẢN XUẤT

BUÔN BÁN HÀNG GIẢ

I. Khái quát về hàng giả

1. Về khái niệm hàng giả

Bộ luật Hình sự hiện hành không có điều khoản mô tả cụ thể thế nào là hàng giả mà chỉ đưa ra các hình phạt đối với tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả". Tuy nhiên, căn cứ vào các qui định tại một số luật chuyên ngành (Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2022; Luật Dược 2016,...) và một số Nghị định liên quan như Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định về “Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” để đi đến một mô tả khái quát về hàng giả.

Về khái niệm hàng giả theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, “hàng giả” gồm:

a) Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;

b) Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

c) Thuốc giả theo quy định tại khoản 33 Điều 2 của Luật Dược năm 2016 và dược liệu giả theo quy định tại khoản 34 Điều 2 của Luật Dược năm 2016;

d) Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; có ít nhất một trong các hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng;

đ) Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;

e) Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả.

Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP:

“Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả” gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lượng, dấu chất lượng, tem truy xuất nguồn gốc, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của tổ chức, cá nhân kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm, mã số mã vạch, mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố của hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác.

Bên cạnh đó Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi tại khoản 79 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 (Có hiệu lực từ ngày 01/01/2023), gồm:

1. Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý, hàng hóa sao chép lậu quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.

2. Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu hoặc dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.

3. Hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó và việc gắn dấu hiệu này được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân không có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật này hoặc theo pháp luật của nước xuất xứ của chỉ dẫn địa lý đó.

4. Hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan.

Ngoài khái niệm về “hàng giả” đã được giải thích ở trên, trên thực tế còn xuất hiện một khái niệm khác thường đi kèm với tên gọi là “hàng nhái” được hiểu dùng để chỉ một sản phẩm nào đó, đang lưu thông trên thị trường mà không chính thống, “sao chép” lại các sản phẩm bản quyền của các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính đã thiết kế, chế tạo ra mà không được phép của họ. Và cũng theo nghiên cứu thì trong các quy định pháp luật hiện nay chưa có giải thích từ ngữ, đưa ra định nghĩa về khái niệm này do đó chúng ta chỉ sử dụng khái niệm “hàng nhái” trong những văn bản mang tính chất tham khảo, chứ không được đưa vào trong các văn bản pháp lý đòi hỏi độ chính xác cao.

2. Sản xuất và buôn bán hàng giả

Sản xuất hàng giả là hành vi làm ra (tạo ra) sản phẩm hàng hóa giả về hình thức và/hoặc chất lượng so với hàng thật (đã được pháp lý hóa) đang được lưu thông trên thị trường (nhằm mục đích thu lợi bất chính). Người phạm tội chỉ cần thực hiện một khâu của quá trình sản xuất hàng giả mà không cần thực hiện toàn bộ quá trình tạo ra hoàn chỉnh sản phẩm giả đã cấu thành tội sản xuất hàng giả.

Buôn bán hàng giả là việc một người biết là hàng giả mà vẫn có hành vi mua bán, trao đổi hàng hóa giả (nhằm mục đích thu lợi bất chính). Người phạm tội chỉ cần thực hiện một khâu mua hoặc bán hàng hóa giả (nhằm mục đích thu lợi bất chính) đã cấu thành tội buôn bán hàng giả mà không cần thực hiện đồng thời cả hành vi mua và bán hàng hóa giả.

Từ phân tích nêu trên và căn cứ quy định tại khoản 7, Điều 3, Nghị định 98/2020/NĐ-CP, có thể chia thành hai nhóm hàng giả mà người sản xuất hàng giả thường hay thực hiện là:

Thứ nhất, nhóm sản xuất hàng giả về hình thức, mẫu mã, tem nhãn, xuất xứ (gọi tắt là giả về hình thức);

Thứ hai, nhóm sản xuất hàng giả về chất lượng hàng hóa.Trong đó, giả về chất lượng hàng hóa lại được chia ra: Giả về chất lượng hàng hóa của doanh nghiệp khác đã được pháp lý hóa (đã được đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) và giả về chất lượng hàng hóa của doanh nghiệp mình, do chính doanh nghiệp mình đã công bố (nhưng khi sản xuất chỉ đạt dưới 70% chất lượng so với mức đã đăng ký, công bố áp dụng).

- Với nhóm hàng giả thứ nhất (giả về hình thức sản phẩm hàng hóa): Người sản xuất (doanh nghiệp sản xuất): Sản xuất ra sản phẩm hàng hóa giống một loại “hàng thật” của doanh nghiệp khác đang tồn tại khách quan, đã đưa vào lưu thông, được xã hội chấp nhận, sử dụng, có những đặc tính, chất lượng nhất định, được trao đổi, mua bán trên thị trường và đã được pháp lý hóa (đăng ký chất lượng, mẫu mã, thương hiệu...) với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì đều bị coi là sản xuất hàng giả.

- Với nhóm hàng giả thứ 2 (giả về chất lượng sản phẩm hàng hóa): Người sản xuất (doanh nghiệp sản xuất): Sản xuất ra sản phẩm hàng hóa do chính doanh nghiệp đó đã đăng ký chất lượng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng sau đó lại sản xuất ra sản phẩm có chất lượng chỉ đạt dưới 70% so với chất lượng đã đăng ký trước đó thì bị coi là sản xuất hàng giả. Chính mình làm giả sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp mình (không đúng như với đăng ký, công bố) thì bị coi là sản xuất hàng giả. Và trường hợp doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm hàng hóa giống về mẫu mã với hàng hóa cùng loại của doanh nghiệp khác đã được pháp lý hóa (đăng ký chất lượng, mẫu mã...) thì cho dù chất lượng sản phẩm hàng hóa làm ra đó có ngang bằng hoặc tốt hơn cũng vẫn bị coi là sản xuất hàng giả (giả sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp khác).

II. Quy định của pháp luật đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả

1. Quy định về xử phạt hành chính

Theo quy định tại Điều 4, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 17/2022/NĐ-CP và Nghị định 24/2025/NĐ-CP) đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm (tức chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự) thì cá nhân, tổ chức vi phạm tùy thuộc vào hành vi, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt đến mức cao nhất là 200.000.000 đồng đối với cá nhân và 400.000.000 đồng đối với tổ chức (gấp 2 lần mức phạt đối với cá nhân).

Đồng thời cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng thêm các hình phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả như sau:

- Buộc thu hồi, tiêu hủy hàng hóa vi phạm.

- Buộc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

- Buộc cải chính thông tin sai sự thật, thông tin gây nhầm lẫn.

- Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn mác, bao bì hàng hóa.

- Buộc nộp lại số lợi bất chính có được thông qua hành vi vi phạm.

- Tịch thu tang vật, phương tiện, máy móc được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm.

- Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề, giấy phép kinh doanh hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn (12 - 24 tháng) trong lĩnh vực vi phạm.

Ngày 21/5/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo quy định tại Nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 31/1/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp; điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hoạt động dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí.

Cụ thể, Nghị định 24/2025/NĐ-CP đã tăng mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm về hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Mức phạt có thể lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm. Ngoài ra, Nghị định còn bổ sung các quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong giao dịch trên không gian mạng, đặc biệt là các hành vi liên quan đến hàng giả, hàng nhái được quảng bá, kinh doanh trên các nền tảng trực tuyến. Theo đó, phạt tiền từ 50-70 triệu đồng đối với chủ thể kinh doanh thiết lập, vận hành, cung cấp dịch vụ nền tảng số có một trong các hành vi vi phạm sau đây: Sử dụng biện pháp ngăn hiển thị hoặc hiển thị không trung thực kết quả phản hồi, đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, trừ trường hợp phản hồi, đánh giá đó vi phạm quy định của pháp luật, trái đạo đức xã hội; quấy rối người tiêu dùng thông qua hành vi tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp trái với ý muốn của người tiêu dùng để giới thiệu về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc đề nghị giao kết hợp đồng.

Mức phạt này cũng áp dụng nếu chủ thể kinh doanh thiết lập, vận hành, cung cấp dịch vụ nền tảng số không thông báo trước hoặc không công khai cho người tiêu dùng việc tài trợ cho người có ảnh hưởng dưới mọi hình thức để sử dụng hình ảnh, lời khuyên, khuyến nghị của người này nhằm xúc tiến thương mại hoặc khuyến khích người tiêu dùng mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.

Nghị định 24/2025/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 100-200 triệu đồng đối với tổ chức thiết lập, vận hành nền tảng số trung gian không xác thực danh tính tổ chức, cá nhân bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ trên nền tảng số trung gian của mình.

Việc ban hành Nghị định 24/2025/NĐ-CP thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc đẩy mạnh công tác đấu tranh chống hàng giả, hàng nhái, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy môi trường kinh doanh lành mạnh.

2. Xử lý hình sự

Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả có thể truy về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192, Điều 193, Điều 194, Điều 195 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngay tại Điều 192 BLHS 2015 về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả” qui định: Người nào có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 30.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi (cùng nhóm tội) quy định tại các Điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196, 200 BLHS 2015 thì đã cấu thành tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả".

Hình phạt đối với nhóm tội về sản xuất, buôn bán hàng giả theo BLHS 2015 là rất nặng, cụ thể:

- Điều 192 BLHS 2015 quy định về tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả”. Khung cơ bản là phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng (từ ngày 01/7/2025, theo Luật số 86/2025/QH15 về sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025 thì mức phạt tiền này đã tăng gấp đôi so với trước) hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. Khoản 3 có khung hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên...

- Điều 193 BLHS 2015 quy định về tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm”. Khung cơ bản là phạt tù từ 2 năm đến 5 năm (không có phạt tiền ở khung cơ bản đối với Điều 193 này). Khoản 4 có khung hình phạt tù lên đến 15 năm, 20 năm hoặc tù chung thân.

- Điều 194 BLHS 2015 quy định về tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh”. Khung cơ bản là phạt tù từ 2 năm đến 7 năm (và cũng không có phạt tiền ở khung cơ bản đối với Điều 194 này). Khoản 4 có khung hình phạt tù lên đến 20 năm, tù chung thân. Trước ngày 01/7/2025 hình phạt cao nhất đối với tội này là tử hình.

- Điều 195 BLHS 2015 quy định về tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi”. Khung cơ bản là phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng (từ ngày 01/7/2025 theo Luật số 86/2025/QH15 về sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025 thì mức phạt tiền này đã tăng gấp đôi ), hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. Khoản 4 có khung hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm tù.

Ngoài ra, đối với pháp nhân thương mại phạm vào các tội nêu trên thì bị phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn...

Bởi mức độ vi phạm và ảnh hưởng của mỗi loại hàng giả là rất khác nhau nên chế tài áp dụng xử phạt theo quy định của Luật, Nghị định cũng sẽ có sự điều chỉnh linh hoạt tương ứng. Vi phạm về hàng giả nếu chỉ dừng lại trong một mức độ, một mặt hàng, lĩnh vực nào đó có thể sẽ chỉ bị xử lý vi phạm hành chính, buộc tiêu hủy hàng hóa vi phạm đơn thuần tuy nhiên nếu vi phạm về hàng giả mà gây ra hậu quả nghiêm trọng, vượt quá trị giá khung hàng hóa vi phạm cho phép hoặc gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người thì sẽ có thể bị khởi tố vụ án hình sự. Do đó trong thực tiễn đấu tranh, từ những dấu hiệu về hàng hóa giả mạo ban đầu, người thực thi công vụ cần phải có sự nghiên cứu, xem xét đánh giá một cách cẩn thận, tổng thể các quy định về các loại hàng giả ở trên để xác định và áp dụng đúng vi phạm tránh bỏ lọt người, lọt tội; trường hợp cần thiết thì tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn, Cục Sở hữu trí tuệ … liên hệ với các Công ty đại diện chủ thể quyền để phối hợp làm việc, trưng cầu giám định, kiểm nghiệm để có kết luận chính xác nhất.

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG

SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ

1. Thực trạng sản xuất, buôn bán hàng giả

Năm 2023 lực lượng quản lý thị trường đã phát hiện và xử lý 52.251 vụ vi phạm về buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả;

Năm 2024: Lực lượng Quản lý thị trường đã phát hiện và xử lý 47.135 vụ vi phạm, với trị giá hàng hóa vi phạm lên tới 425 tỷ đồng.

4 tháng đầu năm 2025 các địa phương và đơn vị đã bắt giữ và xử lý hơn 34.000 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách nhà nước hơn 4.892 tỷ đồng, khởi tố hình sự 1.450 vụ, hơn 2.100 đối tượng.

Một số vụ án lớn điển hình trong 6 tháng đầu năm 2025:

1. Ngày 3/4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã khởi tố vụ án “Sản xuất hàng giả là thực phẩm” và “Lừa dối khách hàng” xảy ra tại Công ty Asia Life, Công ty Chị Em Rọt và một số công ty liên quan tại TP Hồ Chí Minh và tỉnh Đắk Lắk; khởi tố 5 bị can.

2. Ngày 10/4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”; “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Cổ phần Dược quốc tế Rance Pharma, Công ty Cổ phần Dược dinh dưỡng Hacofood Group và các cơ quan, tổ chức liên quan; khởi tố 5 bị can.

3. Ngày 10/4, Công an tỉnh Vĩnh Phúc khởi tố vụ án “Sản xuất, buôn bán hàng giả” là màn hình ô tô, khởi tố 1 bị can.

4. Ngày 14/04, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội khởi tố vụ án “Sản xuất, buôn bán hàng giả” là sách, khởi tố 3 bị can. Tổng số tang vật thu giữ có 10.080 quyển truyện Doraemon và 2.995 kg bán thành phẩm.

5. Ngày 18/4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An khởi tố vụ án, khởi tố bị can 4 đối tượng về hành vi “Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm”. Tang vật vụ án có: 1.948 lu chứa giá đỗ các loại, với tổng khối lượng khoảng 25.000kg giá đỗ; các phụ kiện phục vụ việc sản xuất giá đỗ; 25 lít dung dịch hoá chất “nước kẹo” (tên khoa học là chất 6-Benzylaminopurine (6- BAP)) nguyên chất và 150 lít dung dịch đã pha chế để phục vụ việc sản xuất.

6. Ngày 20/4, Công an tỉnh Thanh Hóa khởi tố vụ án “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh”, khởi tố 14 bị can.

7. Ngày 24/4, Công an tỉnh Phú Thọ khởi tố vụ án “Sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm”, khởi tố 1 bị can; tạm giữ hơn 71.000 lít dầu ăn, khoảng 40 tấn mì chính, 22 tấn hạt nêm, 9 tấn bột canh giả.

8. Ngày 26/4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”, “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, thu giữ trên 100 tấn với hơn 900 nhãn hiệu thực phẩm chức năng cho người lớn tuổi, trẻ em và phụ nữ có thai, khởi tố 5 bị can.

Theo Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ…vẫn hoạt động công khai ở nhiều nơi, gia tăng trên môi trường thương mại điện tử với quy mô lớn, thời gian dài, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe Nhân dân.

2. Khó khăn, vướng mắc trong việc xử lý tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả”

Một là, khó khăn trong việc xác định tội danh liên quan đến hàng giả:

- Đối với tội “Sản xuất buôn bán hàng giả” và tội “Lừa đảo chiếm  đoạt tài sản”:  Mục đích của người sản xuất, buôn bán hàng giả là nhằm mục đích thu lợi bất chính. Động cơ, mục đích phạm tội này tương đồng với động cơ, mục đích phạm tội đối với nhiều loại tội phạm khác, đặc biệt là tội “Lừa  đảo chiếm đoạt tài sản”. Trong tội “Lừa  đảo chiếm đoạt tài sản”, người thực hiện hành vi phạm tội cũng đưa ra các thông tin giả mạo (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin là thật để chiếm đoạt tài sản của những người này. Tuy nhiên, khi xét xử cần lưu ý đối với tội “Lừa  đảo chiếm đoạt tài sản”, người phạm tội sử dụng hàng giả như một thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản, và về mặt chủ quan thì người bị hại trong tội “Lừa  đảo chiếm đoạt tài sản” được xác định trước, ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội là dùng hàng giả để lừa đảo những cá nhân xác định nhằm chiếm đoạt tài sản, còn người sản xuất hàng giả không hướng đến một đối tượng cụ thể, mà hướng đến việc tiêu thụ hàng hóa chung nhằm mục đích thu lợi.

- Xác định là tội sản xuất, buôn bán hàng giả hay là tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở đây là hành vi chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì có thể xác định “hàng giả” và “hàng hóa giả mạo” đề cập trong hai tội này có phần trùng nhau bởi “hàng giả” có giả mạo về hình thức mà giả mạo về hình thức có giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý. Có thể thấy, mức xử phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả cao hơn nhiều so với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Do đó, việc xác định tội danh thuộc loại nào là hết sức quan trọng.

Hai là, khi truy cứu đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả, khó khăn trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành, tức là tội phạm hoàn thành khi nào, khi sản phẩm giả đã được sản xuất xong hay chỉ cần đang trong một giai đoạn nào đó của quy trình sản xuất?

Ba là, qua tìm hiểu thông tin trên báo chí cho thấy, mặc dù các hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu của các thương hiệu nổi tiếng bị xử lý rất nhiều nhưng chưa có vụ việc nào bị xử lý hình sự. Trong thực tế thi hành thì việc xử lý hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không áp dụng Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong khi đó, Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ áp dụng đối với hành vi “xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” (tức là hành vi chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ) mà không áp dụng đối với hành vi “sản xuất, buôn bán” hàng giả. Ngoài ra, để xử phạt được bằng Điều 192 đối với những trường hợp hàng giả tương đương trị giá hàng thật dưới 30 triệu đồng thì cần có điều kiện kèm theo (như đã bị xử phạt vi phạm hành chính, gây thương tích, gây thiệt hại, thu lợi bất chính...). Trong khi đó, nếu có các dấu hiệu vi phạm mà có thể xử lý theo Điều 226 thì tội này lại là một trong những trường hợp chỉ bị khởi tố theo yêu cầu của bị hại, tức là nếu bị hại không yêu cầu thì không thể khởi tố về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Bốn là, về tội lừa dối khách hàng, ở đây, mặt khách quan của tội chủ yếu là hành vi “cân, đong, đo, đếm, tính gian” hàng hóa, dịch vụ, nên nếu chỉ xét ở khía cạnh này thì không thể sử dụng để truy cứu về hành vi bán hàng giả. Tuy nhiên, tại điều luật còn một nội dung mở đó là “dùng thủ đoạn gian dối khác” mà nội dung này cũng chưa có hướng dẫn cụ thể. Do đó, điều khoản này rất khó áp dụng để xử phạt vi phạm về hàng giả .

Năm là, khó khăn trong việc xử lý pháp nhân phạm tội: cũng giống như thể nhân, pháp nhân thương mại tham gia vào quan hệ pháp luật là chủ thể bình đẳng, độc lập với các chủ thể khác nên pháp nhân thương mại phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Mọi hoạt động của pháp nhân được tiến hành thông qua hành vi của những cá nhân - người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, khi pháp nhân ra đời nhưng chưa có người đại diện, người đại diện chỉ được xác định sau khi pháp  nhân tiến hành các thủ tục cần thiết mà pháp nhân này lại thực hiện hành vi sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả được quy định là tội phạm thì việc xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong trường hợp này gặp khó khăn.

Ngoài ra, nhiều thuật ngữ, khái niệm trong tội “sản xuất, buôn bán hàng giả” còn chung chung, chưa được quy định cụ thể nên dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng trong thực tiễn như: “hàng giả tương đương với số lượng hàng thật”; “hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng”…

3. Nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc

Thứ nhất, hệ thống pháp luật liên quan đến quan lý sản xuất, kinh doanh hàng hóa hiện nay còn thiếu sự thống nhất và đồng bộ. Hiện có rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động này nhưng chưa đưa ra được một khái niệm thống nhất, rõ ràng về "hàng giả" để làm căn cứ pháp lý cho công tác phát hiện, xử lý hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Các nghị định như Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/08/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Nghị định số 24/2025/NĐ-CP ngày 21/02/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo quy định tại Nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 31/01/2022 sửa đổi các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp; điện lực an toàn thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiện và hiệu quả; hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người quyền lợi người tiêu dùng, hoạt động dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí, tuy nhiên đây chỉ là các quy định trong xử lý vi phạm hành chính về hàng giả, chưa phải căn cứ áp dụng cho xử lý hình sự, dẫn đến những khó khăn trong việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử.

Thứ hai, mặc dù Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 đã cụ thể hóa 04 tội danh liên quan đến hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả nhưng công tác chứng minh yếu tố cấu thành tội phạm, đặc biệt là yếu tố lỗi cố ý của chủ thể phạm tội vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Cụ thể, lực lượng chức năng phải làm rõ ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi, như động cơ, mục đích thu lợi bất chính từ việc mua bán hàng giả. Chỉ khi chứng minh được hành vi mua đi bán lại hàng giả nhằm mục đích kiếm lời thì mới có thể cấu thành tội buôn bán hàng giả, đây là trở ngại lớn trong thực tiễn tố tụng.

Thứ ba, quy định của Bộ luật Hình sự còn mở rộng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Việc xử lý pháp nhân thương mại phạm tội lại đặt ra không ít khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Hiện nay, pháp luật vẫn còn thiếu những hướng dẫn chi tiết về một số vấn đề thực tiễn như: cách xác định trách nhiệm khi có nhiều người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; xử lý trường hợp người đại diện vừa là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự cá nhân, vừa đại diện cho pháp nhân; cách thức chứng minh lỗi của pháp nhân thương mại và việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả.

Thứ tư, theo quy định của pháp luật hiện hành, để xử lý hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, bắt buộc phải có kết luận giám định xác nhận đó là hàng giả. Tuy nhiên, chi phí giám định hiện nay còn khá cao, trong khi lực lượng chức năng phải tạm ứng trước kinh phí này để tiến hành giám định. Trường hợp xác định đúng là hàng giả, số hàng này buộc phải bị tiêu hủy, dẫn đến việc không thu hồi được chi phí đã bỏ ra. Điều này gây áp lực không nhỏ về ngân sách và tạo ra tâm lý e ngại trong lực lượng thực thi nhiệm vụ. Hệ quả là một bộ phận cán bộ, chiến sĩ tham gia công tác phòng, chống hàng giả vẫn còn thiếu quyết liệt, thậm chí ngần ngại trong việc khởi xướng điều tra hoặc xử lý, ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc đấu tranh với loại tội phạm nguy hiểm này.

Thứ năm, hiện nay vẫn chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự với các cơ quan chức năng khác trong việc khởi tố, điều tra, truy tố và xử lý các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Theo quy định pháp luật hiện hành, việc quản lý hàng hóa lưu thông trên thị trường thuộc trách nhiệm của nhiều lực lượng, bộ ngành khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng chồng chéo trong chức năng, nhiệm vụ và có nhiều kẽ hở để các đối tượng lợi dụng sản xuất, buôn bán hàng giả. Chẳng hạn, tình trạng làm giả thực phẩm chức năng hiện đang diễn biến phức tạp, nhưng cơ chế pháp lý quản lý mặt hàng này vẫn còn lỏng lẻo; các cơ quan chức năng chưa xây dựng được bộ quy chuẩn kỹ thuật cụ thể cho nhóm sản phẩm này, gây khó khăn cho các lực lượng chức năng trong quá trình đấu tranh và xử lý vi phạm.

Từ những bất cập nêu trên, có thể thấy rằng việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

CHƯƠNG III

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ

Một là, cần sửa đổi, bổ sung Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/08/2020 cũng như Nghị định số 24/2025/NĐ-CP ngày 21/02/2025 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Việc sửa đổi cần theo hướng tăng mức xử phạt đối với những hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời tăng hình phạt bổ sung đối với các hành vi này để kịp thời cảnh báo, răn đe các đối tượng khác.

Hai là, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến xử lý hình sự hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Hiện nay, các quy định liên quan trong Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Giám định tư pháp… vẫn còn thiếu các hướng dẫn cụ thể, thống nhất, đặc biệt là trong việc xác định rõ khái niệm và tiêu chí xác định hàng giả. Trên thực tế, khái niệm “hàng giả” chủ yếu chỉ được quy định trong xử lý hành chính, chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử.    

Ba là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, buôn bán hàng hóa, qua đó nâng cao hiệu quả phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả. Cần rà soát, khắc phục các bất cập, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ, ngành có liên quan, đảm bảo sự liên thông, thống nhất dưới sự chỉ đạo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Bốn là, đối với cơ quan quản lý nhà nước cần thực hiện một số biện pháp sau: Nâng cao năng lực của lực lượng thực thi pháp luật về phòng, chống hàng giả, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; sớm vận hành Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia; tuyên truyền, phổ biến các thông tin về phòng, chống hàng giả (pháp luật, các website vi phạm, cách nhận biết hàng giả...) bằng nhiều hình thức, nhiều phương tiện để tăng cơ hội tiếp cận, nhận thức của doanh nghiệp, người dân; tăng cường hợp tác quốc tế về chống hàng giả, hàng nhái; tăng cường phối hợp, chia sẻ dữ liệu, thông tin với các cơ quan liên quan để kiểm tra, kiểm soát nhằm kịp thời phát hiện, xử lý hành vi sản xuất, kinh doanh, buôn bán hàng giả, đặc biệt là hoạt động thông qua môi trường thương mại điện tử.

Tăng cường hiệu quả mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các lực lượng chức năng có liên quan trong phòng chống, tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả. Hoạt động phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả cần thiết phải có sự tham gia của nhiều lực lượng; liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau. Do đó, thời gian tới các lực lượng thực thi pháp luật cần nâng cao hiệu quả của mối quan hệ phối hợp trong hoạt động phòng ngừa, đấu tanh tội phạm. Cần tăng cường trao đổi thông tin về tình hình, diễn biến của tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả; trao đổi, cung cấp kịp thời những thông tin, vụ việc có liên quan đặc biệt trong giải quyết những vụ việc phức tạp; tăng cường mối quan hệ phối hợp trong hoạt động giám định để làm căn cứ khởi tố vụ án; phối hợp với lực lượng Thanh tra chuyên ngành để tiếp nhận tin, giải quyết tin báo, kiến nghị khởi tố các hành vu liên quan đến tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả.

Cùng với đó tăng cường kiểm tra, hậu kiểm bắt buộc; tăng cường kỷ luật, kỷ cương thi hành công vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức lực lượng trực tiếp quản lý, giám sát đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa trên thị trường. Xử lý nghiêm với những cán bộ, công chức, viên chức thoái hóa, tiếp tay cho hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả.

 Năm là, đối với doanh nghiệp, cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống hàng giả, hàng nhái, cụ thể như: Đăng ký sở hữu trí tuệ đặc biệt là nhãn hiệu hàng hóa; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường để kịp thời phát hiện hành vi vi phạm và thông tin đến cơ quan chức năng; sử dụng các biện pháp như tem chống hàng giả, tem xác thực, tem truy xuất nguồn gốc...;.

Sáu là, đối với người dân, cần nâng cao nhận thức về hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng; nâng cao cảnh giác bằng việc kiểm tra tem, nhãn, mã vạch, truy xuất nguồn gốc; nói “không” với hàng giả, hàng nhái; lựa chọn nơi, kênh mua sắm uy tín; thông tin cho doanh nghiệp, cơ quan chức năng (đặc biệt là Ban chỉ đạo 389 chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả) khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm về hàng giả.

Bảy là, đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp, hộ kinh doanh chấp hành pháp luật và khuyến cáo người tiêu dùng tiêu dùng thông minh./.

CƠ QUAN ĐIỀU TRA HÌNH SỰ QUÂN KHU 2