NỘI DUNG CHUYÊN
ĐỀ
MỞ ĐẦU
Căn cứ vào chức năng thực hiện quyền lực
nhà nước, bất cứ nhà nước nào cũng đều chia các cơ quan nhà nước thành cơ quan
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, lập pháp là chức năng ban hành pháp
luật; hành pháp là thực thi pháp luật còn tư pháp là xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật cũng như xử lý các xung đột của các cá nhân theo qui định của pháp luật.
Tuy nhiên với mỗi kiểu nhà nước khác nhau, thì việc phân công cơ quan nắm 3 quyền
này cũng như mối quan hệ giữa các cơ quan này là khác nhau.
Ở nước ta, không
có sự phân chia quyền lực một cách tuyệt đối. Theo đó, Hiến pháp 2013 (sửa đổi bổ sung năm 2025) quy định:
“quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Các cơ quan luôn có sự phối hợp chặt chẽ với
nhau. Việc kiểm soát lẫn nhau không phải để chế ước mà là để cùng nhau thực hiện
quyền lực nhà nước một cách thống nhất, vì mục tiêu chung là phục vụ Nhân dân.
Đây là cơ cấu tổ chức bộ máy ở trung ương,
còn ở địa phương thì cũng tương tự, theo đó HĐND là cơ quan thực hiện quyền lập
pháp, UBND là cơ quan hành pháp và Toà án (địa phương) là cơ quan thực hiện quyền
tư pháp.
Phần thứ nhất
VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG CỦA QH,
HĐND
VÀ ĐẠI BIỂU QH, ĐẠI BIỂU HĐND
1. Các
khóa Quốc hội
Ngày 15/3/2026 tới
đây, cử tri cả nước sẽ tưng bừng đi bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu
Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Tính đến nay, Quốc hội đã
trải qua 15 khoá với nhiệm kỳ từng khoá cụ thể như sau:
-
Quốc hội khoá I, nhiệm kỳ 14 năm, từ 1946-1960;
Đây
là Quốc hội có nhiệm kỳ kéo dài nhất trong lịch sử Quốc hội. Theo quy định của
Hiến pháp năm 1946 thì Nghị viện nhân dân (Quốc hội khi đó lấy tên là Nghị viện
nhân dân) có nhiệm kỳ là 3 năm. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khi đó chúng ta mới
giành được độc lập, phải đối mặt với vô vàn khó khăn thách thức, đất nước bị
chia cắt bị chia cắt bởi chiến tranh, do đó không thể tổ chức được một cuộc bầu
cử trên cả nước để bầu Quốc hội khoá mới.
-
Quốc hội khoá II, nhiệm kỳ 4 năm, từ 1960-1964;
-
Quốc hội khoá III, nhiệm kỳ 7 năm, từ 1964-1971;
Đây
là giai đoạn, đế quốc Mĩ mở rộng cuộc chiến
tranh phá hoại ra miền Bắc bằng không quân và hải quân (bắt đầu từ năm )1965.
Miền Bắc phải ưu tiên nhiệm vụ chiến đấu, chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của
Mỹ tại miền Bắc, bên cạnh nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam.
- Quốc hội khoá IV, nhiệm kỳ 4 năm, từ
1971-1975;
-
Quốc hội khoá V, nhiệm kỳ 1 năm, từ 1975-1976;
Quốc
hội khoá 5 được bầu vào ngày 06/4/1975, khi đó nước ta chưa hoàn toàn thống nhất.
Sau chiến thắng 30/4 lịch sử, nước nhà hoàn toàn thống nhất, đất nước sạch bóng quân xâm lược, Quốc hội đã quyết định
rút ngắn nhiệm kỳ để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của đất nước
thống nhất.
- Quốc hội khoá VI, nhiệm kỳ 5 năm, từ
1976-1981;
- Quốc hội khoá VII, nhiệm kỳ 6 năm, từ
1981-1987;
Quốc hội khoá VII hoạt động trong bối cảnh
công cuộc xây dựng CNXH của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn cách mạng mới-
giai đoạn “tiền đổi mới”. Tuy nhiên, do hậu quả của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước chưa được khắc phục xong, lại phải tập trung giải quyết hậu quả nặng nề của
hai cuộc hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới
phía Bắc. Các thế lực thù địch ráo riết bao vây cấm vận… trong khi chúng ta cũng
mắc phải những sai lầm chủ quan duy ý chí dẫn tới nhiều chỉ tiêu kế hoạch 5 năm
1981-1985 không đạt được, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động kinh tế- xã hội và đời
sống nhân dân. Trước tình hình đó, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết về đổi mới mạnh
mẽ chính sách giá- lương- tiền và cơ chế quản lý kinh tế, dứt khoát xoá bỏ quan
liêu bao cấp, chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN. Để có thời
gian cụ thể hoá Nghị quyết trên của Đảng, tháng 12/1985, Quốc hội đã ban hành
Nghị quyết về việc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội khoá VII thêm 1 năm.
- Quốc hội khoá VIII, nhiệm kỳ 5 năm, từ
1987-1992;
- Quốc hội khoá IX, nhiệm kỳ 5 năm, từ
1992-1997;
- Quốc hội khoá X, nhiệm kỳ 5 năm, từ
1997-2002;
- Quốc hội khoá XI, nhiệm kỳ 5 năm, từ
2002-2007;
- Quốc hội khoá XII, nhiệm kỳ 4 năm, từ
2007-2011;
Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XII
(8/2007), Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khoá
XII từ 5 năm xuống còn 4 năm, đồng thời kéo dài nhiệm kỳ HĐND các cấp từ 2009 đến
2011 nhằm thống nhất ngày bầu cử đại biểu QH và đại biểu HĐND cũng như đảm bảo
nhiệm kỳ của QH, HĐND trùng với nhiệm kỳ Đại hội Đảng, tạo thuận lợi trong việc
thực hiện hiệu quả kế hoạch 5 năm.
- Quốc hội khoá XIII, nhiệm kỳ 5 năm, từ
2011-2016;
- Quốc hội khoá XIV, nhiệm kỳ 5 năm, từ
2016-2021;
- Quốc hội khoá XV, nhiệm kỳ 5 năm, từ
2021-2026;
Tuy
nhiên, ngày 21/5/2025. Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết số 199/2025
về việc rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ
2026-2031; theo đó ngày bầu cử Đại biểu QH và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031
là 15/3/2026 (sớm hơn 3 tháng so với quy định; QH khoá XV bầu vào ngày
23/5/2021, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khai mạc vào 20/7/2021, theo quy định của
pháp luật thì 20/7/2026 Quốc hội khoá XV
và Hội đồng nhân dân các cấp kết thúc nhiệm kỳ và ngày 24/5/2026 phải bầu cử
xong). Lý do: Cần rút ngắn khoảng thời gian giữa Đại hội đảng toàn quốc và kỳ họp
thứ nhất của QH và HĐND khoá mới để kịp thời kiện toàn nhân sự cấp cao, đảm bảo
tính đồng bộ, tổng thể; cấp uỷ các cấp nhiệm kỳ mới kịp thời triển khai Nghị
quyết Đại hội Đảng khoá XIV và đại hội đảng các cấp.
2. Vị trí, chức năng; nhiệm vụ và quyền hạn
của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân
dân.
2.1. Vị trí, chức năng của Quốc hội
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất
của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam”[1].
- Cách thức thành lập: Quốc hội là cơ quan duy nhất được
Nhân dân cả nước trực tiếp bầu ra. Khác với các cơ quan khác, được hình thành
dựa trên cơ sở các quyết định thành lập, với con người thông qua bầu, phê
chuẩn, hoặc bổ nhiệm. Quốc hội với đại biểu Quốc hội là do cử tri cả nước bầu
ra, được Nhân dân uỷ quyền, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân.
-
Về thành phần đại biểu:
Đại biểu Quốc hội gồm những người ưu tú nhất đại diện cho mọi tầng lớp, dân
tộc, tôn giáo, độ tuổi, giới tính, các vùng lãnh thổ trong cả nước…
Vị trí là cơ quan quyền lực Nhà nước
cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện:
- Quốc hội là cơ
quan quyền lực Nhà nước duy nhất nhận
được quyền lực nhà nước trực tiếp từ Nhân dân. Khác với các cơ quan khác,
quyền lực Nhà nước của các cơ quan này cũng là quyền lực của Nhân dân nhưng
không phải do Nhân dân trực tiếp trao cho mà là do Quốc hội uỷ quyền lại thông
qua việc bầu hay phê chuẩn các chức danh quan trọng trong bộ máy Nhà nước hoặc
có được chức năng, nhiệm vụ thông qua quy định của văn bản quy phạm pháp luật
do Quốc hội ban hành, như: nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ được quy định
trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ- là các văn bản do Quốc hội ban hành.
- Chức năng của Quốc hội “Thực hiện
quyền lập hiến, lập pháp; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám
sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”[2].
Đây là những quyền năng quan trọng nhất mà không cơ quan nào trong bộ máy nhà
nước có được.
2.2.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội
Để Quốc hội thực hiện chức năng của
mình, pháp luật quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội[3]
như sau:
*
Quyền lập hiến, quyền lập pháp:
Ban hành Hiến pháp và Luật; sửa đổi Hiến pháp và Luật, là hai văn bản pháp luật
có hiệu lực cao nhất trong hệ thống pháp luật của nước ta, trong đó Hiến pháp
là đạo luật cơ bản, quan trọng nhất. Các văn bản pháp luật khác đều phải phù
hợp với Hiến pháp và Luật như: Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH,
Nghị định của Chính phủ, Thông tư, Thông tư liên tịch của các bộ, liên bộ; Nghị
quyết của HĐTP TANDTC… Ngoài ra, Quốc hội còn có quyền bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
*
Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước:
- Các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội gồm:
+ Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu,
chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hằng năm của đất
nước; chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng
quốc gia.
+ Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa
đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ
chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức
giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân
sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách
nhà nước.
+ Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính
sách cơ bản về đối ngoại của Nhà nước.
- Bầu, phê chuẩn, miễn nhiệm,
bãi nhiệm, phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm, cách chức các chức danh trong BMNN
như: bầu Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên Ủy ban thường vụ
Quốc hội; Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc
hội; Thủ tướng Chính phủ; Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao... Phê chuẩn các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên
khác của Chính phủ; Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thành viên Hội
đồng quốc phòng và an ninh; thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia . Miễn nhiệm, bãi nhiệm, phê chuẩn đề nghị miễn
nhiệm, cách chức người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm;
- Quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan; thành lập, giải thể, nhập, chia,
điều chỉnh địa giới hành chính;
- Bãi bỏ văn bản trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
- Quyết định đại xá;
- Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình;
- Phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc
chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế;
- Trưng cầu ý dân;
- Xem xét báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị và việc giải quyết kiến nghị
của cử tri cả nước.
* Quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước được thể hiện: giám sát tối cao
việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội. Giám sát tối cao
hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm
toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập.
2.2.
Vị trí, vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của đại biểu
Quốc hội
2.2.1.
Vị trí, vai trò
của đại biểu Quốc hội [4]
- Là người đại
diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân
dân cả nước; là người thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong
Quốc hội bởi đại biểu Quốc hội là người do Nhân dân bầu ra, thay mặt Nhân dân
trong việc thực hiện quyền lực của Nhân dân thông qua hoạt động của mình.
- Đại biểu
Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri và trước Quốc hội về việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Nếu đại biểu nào không còn xứng đáng với
sự tín nhiệm của Nhân dân sẽ bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm.
- Đại biểu Quốc
hội bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền
hạn của Quốc hội. Khi quyết định các vấn đề của Quốc hội, ý kiến của các đại
biểu là như nhau, không phân biệt đại biểu giữ chức vụ trong cơ quan Nhà nước
lớn hay nhỏ, đều được tính là 01 phiếu.
2.2.2.
Trách nhiệm của
đại biểu Quốc hội [5]
- Tham gia các
hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội:
+ Tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp toàn thể của Quốc hội; tham gia các
hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội; thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội.
+ Tham dự các
phiên họp, tham gia các hoạt động khác của Hội đồng, Ủy ban; thảo luận và biểu
quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Ủy ban mà mình
là thành viên.
-
Trách nhiệm với cử tri: Liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp
xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh
trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu
quan; phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật. Tiếp xúc
cử tri theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội. Đại biểu
Quốc hội tiếp xúc cử tri ở nơi cư trú, nơi làm việc; tiếp xúc cử tri theo chuyên
đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà đại biểu quan tâm. Trong quá trình tiếp xúc
cử tri, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo với cử tri về hoạt động của
đại biểu và Quốc hội; cử tri hoặc đại diện cử tri có thể góp ý kiến với đại
biểu Quốc hội tại hội nghị cử tri do Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương tổ chức trong trường hợp cần thiết.
- Trách nhiệm tiếp
công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân:
+ Khi nhận được
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm
nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho
người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc
giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đại biểu Quốc hội
về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân trong thời hạn
theo quy định của pháp luật.
+ Trường hợp xét
thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đúng pháp luật, đại biểu
Quốc hội có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm
hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu Quốc hội yêu cầu người đứng
đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó
giải quyết.
2.2.3.
Quyền hạn của đại
biểu Quốc hội [6]
- Trình dự án luật, pháp lệnh và kiến nghị về luật, pháp lệnh.
- Tham gia làm thành viên và tham gia hoạt động
của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội.
Căn cứ vào năng
lực chuyên môn, yêu cầu công tác và khả năng bố trí thời gian tham gia đầy đủ
hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội có thể đăng ký tham
gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc một Ủy ban của Quốc hội. Ủy ban
thường vụ Quốc hội xem xét, phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội phù hợp với cơ cấu số lượng thành viên của từng cơ quan đã
được quyết định.”.
- Ứng cử, giới thiệu người ứng
cử vào các chức danh do Quốc hội bầu.
- Chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội,
Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm
toán nhà nước.
- Kiến nghị Quốc hội xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, trưng cầu ý dân, thành lập Ủy ban lâm
thời của Quốc hội, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu
hoặc phê chuẩn, tổ chức kỳ họp không thường lệ, phiên họp kín của Quốc hội và
kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu Quốc hội thấy cần thiết. Kiến nghị
các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng biện pháp cần thiết để thực hiện Hiến
pháp, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân...
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành
những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật.
- Yêu cầu cung
cấp thông tin: Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông
tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Người
đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà
đại biểu Quốc hội yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Tham dự kỳ họp HĐND các cấp nơi mình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, có quyền tham gia ý kiến vào
các vấn đề quản lý nhà nước, vấn đề liên quan đến đời sống của Nhân dân và các
vấn đề khác mà đại biểu quan tâm.
- Miễn trừ của đại biểu Quốc hội: Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Quốc hội, khám xét nơi ở và nơi
làm việc của đại biểu Quốc hội nếu không có sự đồng ý của Quốc hội hoặc trong
thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của UBTV Quốc hội. Việc đề
nghị bắt, giam, giữ, khởi tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc
hội thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trường hợp đại biểu Quốc hội bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan
tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc UBTV Quốc hội xem xét, quyết
định.
Đại biểu Quốc hội
không thể bị cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu công tác bãi nhiệm, cách
chức, buộc thôi việc, sa thải nếu không được UBTV Quốc hội đồng ý.
- Việc tạm đình
chỉ hoặc mất quyền đại biểu Quốc hội [7]
+ UBTV Quốc hội
xem xét, quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại
biểu Quốc hội trong các trường hợp sau:
a) Đại biểu Quốc
hội bị khởi tố bị can;
b) Trong quá trình
xem xét, xử lý hành vi vi phạm của đại biểu Quốc hội, có cơ sở xác định phải xử
lý kỷ luật từ cảnh cáo trở lên đối với đại biểu Quốc hội là cán bộ, công chức,
viên chức hoặc xử lý bằng pháp luật hình sự mà cơ quan thanh tra, kiểm tra,
kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đã có văn bản đề nghị tạm
đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội đối với đại
biểu Quốc hội đó.
+ Đại biểu Quốc
hội được trở lại thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu và khôi phục các lợi
ích hợp pháp khi cơ quan có thẩm quyền có quyết định, kết luận về việc không có
vi phạm, không xử lý kỷ luật, quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối
với đại biểu đó hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật tuyên đại biểu đó không có tội hoặc được miễn trách nhiệm hình sự. Trường
hợp đại biểu Quốc hội bị xử lý kỷ luật thì tùy theo tính chất, mức độ mà có thể
xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu hoặc UBTV Quốc hội xem xét, quyết định việc cho
trở lại thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu hay đề nghị Quốc hội bãi nhiệm
đại biểu Quốc hội.
+ Đại biểu Quốc
hội bị kết tội bằng bản án, quyết định của Tòa án thì đương nhiên mất quyền đại
biểu Quốc hội kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.”.
2.3. Vị trí và nhiệm vụ, quyền hạn của
HĐND
2.3.1.
Vị trí của HĐND
- Hội đồng nhân dân
là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ
quan nhà nước cấp trên [8].
- Như vậy cũng
giống như Quốc hội, HĐND được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước
Nhân dân nhưng chỉ trong phạm vi địa phương (tỉnh hoặc xã) và phải chịu trách
nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên.
2.3.2.
Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND
Theo quy định tại
khoản 2 Điều 113 Hiến pháp 2013, HĐND có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
- Quyết định các
vấn đề của địa phương do luật định (ban hành nghị quyết- là văn bản quy phạm
pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất ở địa phương; quyết định kế hoạch phát
triển kinh tế- xã hội trung hạn và hằng năm của địa phương quyết định biện pháp
thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ
quan nhà nước cấp dưới trong việc thực hiện nhiệm vụ…);
- Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương
và việc thực hiện nghị quyết của HDDND cấp mình; giám sát hoạt động của Thường
trực HĐND, các Ban của HĐND cấp mình, UBND cùng cấp và cơ quan khác ở địa
phương.
Nhiệm vụ, quyền
hạn cụ thể của HĐND các cấp được quy định tại các Điều 15 (HĐND tỉnh), Điều 18
(HĐND thành phố) và Điều 21 (HĐND xã) Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
2.4. Vị trí và
nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND
2.4.1. Vị trí của đại biểu HĐND [9]
- Là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương;
- Chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.
2.4.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND[10]
- Có trách nhiệm
liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ
tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những
yêu cầu, kiến nghị của cử tri;
- Xem xét, đôn đốc
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;
- Đại biểu HĐND có
nhiệm vụ vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà
nước, nghị quyết của HĐND , động viên Nhân dân tham gia quản lý nhà nước.
- Bình đẳng trong
thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND.
- Chất vấn Chủ
tịch UBND, các thành viên khác của UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND và
Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND. Người bị chất vấn phải trả lời trước HĐND.
- Kiến nghị với
các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị ở địa phương. Người đứng đầu cơ quan, tổ
chức, đơn vị này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị
của đại biểu.
Phần thứ hai
CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
VÀ ĐẠI BIỂU HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND
đã được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/6/2015 và được sửa đổi
bổ sung theo Luật số 83/2025/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2025 (Sau đây gọi tắt là
Luật bầu cử) là cơ sở pháp lý để tổ chức thắng lợi, đảm bảo cuộc bầu cử đại biểu
Quốc hội và bầu cử đại biểu HĐND các cấp diễn ra được dân chủ, bình đẳng, đúng
pháp luật.
Luật bầu cử gồm 10 chương, 98 điều. Điều chỉnh 10 vấn đề sau: Những quy định chung; dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ đại biểu Quốc
hội, đại biểu HĐND; đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu; Hội đồng bầu cử quốc gia
và các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương; danh sách cử tri; ứng cử và hiệp
thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu quốc hội, đại biểu HĐND; tuyên truyền
vận động bầu cử; nguyên tắc và trình tự bỏ phiếu; kết quả bầu cử; bầu cử bổ
sung đại biểu; xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử và điều khoản thi hành.
I. BẦU CỬ
1. Khái niệm bầu cử
Bầu cử là quá trình các cử tri của cả nước đưa ra quyết định của họ theo
các cách thức mà pháp luật quy định để chọn ra các đại biểu đại diện cho mình nắm
giữ các chức vụ trong cơ quan dân cử của chính quyền ở trung ương và địa phương
trong phạm vi lãnh thổ của đất nước. Từ
đó có thể thấy, bầu cử gồm các nội dung:
- Bầu cử là một khâu thiết yếu để thành lập các cơ quan
quyền lực nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Thông qua bầu cử để bầu ra đại
biểu quốc hội, đại biểu quốc hội sẽ bầu ra Chủ tịch nước, Chủ tịch, Phó Chủ tịch
Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSND tối cao… Và
tương tự, đại biểu HĐND bầu ra các chức danh quan trọng ở địa phương.
- Bầu cử là phương thức để Nhân dân thực hiện quyền
lực của mình. Thông qua bầu cử, Nhân dân bầu ra đại biểu đại diện cho ý chí,
nguyện vọng của Nhân dân.
- Bầu cử
là cách thức Nhân dân trao quyền cho Nhà nước. Bằng bầu cử, nhân
dân lựa chọn thành lập ra cơ quan đại diện và ủy thác quyền lực cho họ.
2. Nguyên tắc bầu cử
“Việc
bầu cử Quốc hội và đại biểu HĐND được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình
đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” [11].
- Nguyên tắc phổ thông: Đây là một trong
những nguyên tắc cơ bản của bầu cử và cũng được coi là một trong những quyền cơ
bản nhất của công dân và được Hiến pháp của hầu hết các nước quy định. Theo đó, mọi công dân đáp ứng điều kiện
về quốc tịch, độ tuổi và không thuộc trường hợp không được ghi tên vào danh
sách cử tri như bị Toà án tước quyền bầu cử, bị phạt tù giam, tử hình, mất năng
lực hành vi dân sự thì đều có quyền bầu cử.
Nguyên tắc này thể
hiện tính công khai, dân chủ rộng rãi, đòi hỏi sự bảo đảm để công dân thực hiện
quyền bầu cử, ứng cử.
Trên thực tế, pháp luật của một số nước vẫn có sự hạn chế
nhất định, gạt ra khỏi đời sống chính trị một số lượng lớn người dân. Như các
nhà tu hành Thái Lan hay công dân theo đạo hồi ở Iran không có quyền bầu cử.
- Nguyên tắc bình
đẳng:
+ Mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử,
nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào.
+ Với số lượng dân như nhau thì được bầu số đại biểu bằng
nhau. Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri, chỉ được bỏ một lá
phiếu bầu.
+ Phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu thành phần, số lượng
đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, tầng lớp
xã hội.
- Nguyên tắc trực
tiếp: Là việc công dân trực tiếp thể hiện
ý chí của mình qua lá phiếu, trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không phải
thông qua đại diện cử tri.
+ Nguyên tắc này
đòi hỏi cử tri phải trực tiếp viết phiếu, bỏ phiếu vào thùng phiếu, không được
nhờ người khác trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật như người già
yếu, không biết chữ…
+ Trên thế giới,
đa số các nước tiến hành bầu cử theo nguyên tắc này, tuy nhiên, vẫn có một số
nước thực hiện theo nguyên tắc bầu cử gián tiếp, tức là không phải công dân
trực tiếp bầu ra đại biểu của mình mà thông qua các tuyển cử đoàn hoặc đại cử
tri thực hiện. Như ở Trung Quốc, nhân dân chỉ trực tiếp bầu ra đại biểu HĐND cấp phường xã. Các
đại biểu cấp xã này bầu ra đại biểu HĐND cấp quận huyện. Các đại
biểu cấp quận huyện bầu ra đại biểu HĐND tỉnh. Sau đó, đại biểu
Quốc hội Trung Quốc do đại biểu HĐND các tỉnh bầu ra.
- Nguyên tắc bỏ phiếu kín: Nguyên tắc này bảo đảm cho cử tri
tự do chọn lựa người mình tín nhiệm mà không bị tác động bởi những điều kiện và
yếu tố bên ngoài. Cử tri bầu ai, không bầu ai đều được đảm bảo bí mật.
+ Khi cử tri viết phiếu bầu
không ai được đến xem, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử;
không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết
phiếu bầu trong phòng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Ngoài 4 nguyên tắc
trên, bầu cử còn có nguyên tắc tự do (hoặc bắt buộc).
II. CỬ TRI
1. Điều kiện của cử tri [12]
Cử tri là người có
quyền bầu cử.
Theo quy định tại Điều 3, khoản 4 Điều 29, khoản 1 Điều 30
Luật bầu cử để được bầu cử, công dân phải thoả mãn các điều kiện sau:
- Phải là công dân nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, tức là phải
có quốc tịch Việt Nam;
- Đủ 18 tuổi trở lên tính đến ngày bầu cử được công bố;
- Đang cư trú ở trong nước. Đối với công dân Việt Nam ở nước
ngoài thì phải trở về Việt Nam ít nhất 24 giờ trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu;
- Được ghi tên trong danh sách cử tri (không thuộc các trường
hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri theo quy định của pháp luật).
2. Các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri [13]
- Người đang bị tước
quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật: Chú ý
ở đây là bản án, quyết định của Toà án đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật.
Còn nếu chưa thì họ vẫn được bầu cử
- Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành
án;
- Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án
treo;
- Người mất năng lực hành vi dân sự, tức là những người bị
bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không có khả năng nhận thức.
3. Nguyên tắc lập danh sách cử tri [14]
- Mọi công dân có
quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri, trừ
các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật bầu cử (tức
là trừ các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri). Qui định
này chính là nội dung của nguyên tắc phổ thông trong bầu cử.
- Mỗi công dân chỉ
được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú (trường
hợp tạm trú chưa đủ 12 tháng thì vẫn được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi
tạm trú). Qui định này nhằm đảm bảo một công dân chỉ được một phiếu bầu, đây
chính là điều kiện để nguyên tắc bình đẳng được đảm bảo và thực hiện nghiêm.
- Cử tri là quân
nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi
đóng quân.
- Công dân Việt
Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến
trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, thì đến UBND cấp xã xuất trình hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được
ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri.
- Cử tri là người
đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi
người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ở đây có một vấn đề chúng ta cần chú ý là:
Đối với trường hợp cử tri có thời gian tạm trú chưa đủ 12 tháng; cử tri là quân nhân và cử tri
là công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã
được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ; cử tri là người đang
bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc chỉ tiến hành bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu
HĐND cấp tỉnh ở nơi tạm trú, nơi đóng quân hoặc nơi đang bị giam, tạm giữ, đang
chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
mà không bầu đại biểu HĐND cấp xã.
4. Bổ sung, xoá tên trong danh sách cử tri [15]
- Đối với người thuộc trường hợp không
được ghi tên vào danh sách cử tri (tức là người đang bị tước quyền bầu cử theo
bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình
đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà
không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự) nếu đến trước thời
điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự
do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân
sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri.
- Trong thời gian từ sau khi danh sách
cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, những
người thay đổi nơi cư trú (thường trú và tạm trú) ra ngoài đơn vị hành chính
cấp xã nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được xóa tên trong danh
sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi cư trú mới.
- Cử tri là người
đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ
phiếu 24 giờ mà được trả tự do hoặc đã hết thời gian giáo dục bắt buộc, cai
nghiện bắt buộc thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi có trại tạm giam,
cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, được bổ sung vào danh sách
cử tri tại nơi cư trú.
- Người đã có tên trong danh
sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Tòa án tước quyền bầu cử, phải
chấp hành hình phạt tù hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì UBND cấp xã xóa tên người đó trong danh sách cử
tri và thu hồi thẻ cử tri.
5. Thẩm quyền lập danh sách cử
tri [16]
- Danh sách cử tri do UBND cấp xã lập
theo từng khu vực bỏ phiếu.
- Danh sách cử
tri trong đơn vị vũ trang nhân
dân do chỉ huy đơn vị lập theo
đơn vị vũ trang nhân dân để đưa vào danh sách cử tri của khu vực bỏ phiếu nơi
đơn vị đóng quân. Quân nhân có hộ khẩu thường trú ở địa phương gần khu vực đóng
quân có thể được chỉ huy đơn vị cấp giấy chứng nhận để được ghi tên vào danh
sách cử tri và tham gia bỏ phiếu ở nơi thường trú. Khi cấp giấy chứng nhận, chỉ
huy đơn vị phải ghi ngay vào
danh sách cử tri tại đơn vị vũ trang nhân dân bên cạnh tên người đó cụm từ “Bỏ
phiếu ở nơi cư trú”.
6. Niêm yết danh sách cử tri [17]
Chậm nhất là 40
ngày trước ngày bầu cử, cơ quan lập danh sách cử tri phải niêm yết danh sách cử
tri tại trụ sở UBND cấp xã và tại những địa điểm công cộng của khu vực bỏ
phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để nhân
dân kiểm tra.
III. NGƯỜI ỨNG CỬ
Người ứng cử gồm
có:
- Người được giới thiệu ứng cử: Là
những người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội,
lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước giới thiệu ứng cử.
- Người tự ứng cử: Người tự mình ứng
cử để cử tri bầu.
1.
Điều kiện của người ứng cử [18]
- Là công dân Việt
Nam.
- Tính đến ngày bầu cử được công bố,
đủ hai mươi mốt tuổi trở lên.
- Đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu
Quốc hội qui định tại Luật Tổ chức QH (đối với người ứng cử đại biểu QH); các
tiêu chuẩn của đại biểu HĐND (qui định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương).
- Không thuộc các trường hợp không
được ứng cử đại biểu.
2. Tiêu chuẩn của đại biểu QH, đại biểu HĐND
2.1. Đối với đại
biểu Quốc hội [19]
- Trung thành với Tổ
quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.
- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh
chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và
các hành vi vi phạm pháp luật khác.
- Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức
khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu.
- Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của
Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.
- Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.
2.2. Đối với đại
biểu HĐND [20]
- Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân
và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công
cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.
- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh
chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa
quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
- Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe,
kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện
tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân.
- Cư trú hoặc công tác tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
ở đơn vị hành chính mà mình là đại biểu Hội đồng nhân dân.
- Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của
Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.
3. Trường hợp không được ứng
cử [21]
Những người thuộc các trường hợp sau không được ứng cử đại biểu Quốc hội
và đại biểu HĐND:
- Người đang bị
tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật,
người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi
dân sự.
- Người đang bị
khởi tố bị can.
- Người đang chấp
hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án.
- Người đã chấp
hành xong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng chưa được xóa án tích.
- Người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo
dục tại xã, phường, đặc khu.
Như vậy, so với điều kiện của cử tri, thì điều kiện của người ứng cử được
Luật qui định chặt chẽ hơn rất nhiều, cụ thể:
- Đối
với cử tri, chỉ người nào đang chấp hành hình phạt tù không phải án treo (tức
là thi hành án trong trại giam) thì mới không được bầu cử. Còn đối với người
ứng cử, chỉ cần đang chấp hành hình phạt tù (có thể là giam, có thể là treo) là
đã không được quyền ứng cử.
- Hoặc chỉ
cần đang bị khởi tố bị can (tức là Toà án chưa xét xử) là đã mất quyền ứng cử,
trong khi những người đang bị tạm giam, tạm giữ hoặc đang chờ thi hành án tù
vẫn có quyền đi bầu cử.
- Đối với
cử tri, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn có quyền bầu cử, còn người
ứng cử phải là người không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Hạn chế
năng lực hành vi dân sự ở đây là người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích
thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình và bị Toà án tuyên bố là bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự
- Người đã
chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Toà án là đã có quyền bầu cử
nhưng người ứng cử phải là người được xoá án tích. VD, anh A chấp hành xong bản
án 03 năm tù, được trả tự do trước thời điểm bỏ phiếu 24h sẽ được bổ sung vào
danh sách cử tri. Nhưng, để được ứng cử, anh A phải được trả tự do trước thời
điểm ứng cử là 03 năm (là thời gian đủ để được xoá án tích).
* Các trường hợp không được đưa vào danh sách ứng cử, đề
cử theo Chỉ thị số 46- CT/TW ngày 16/5/2025 của Bộ Chính trị:
Ngoài qui định của
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, ngày 16/5/2016, Bộ Chính trị đã
ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW qui định các trường hợp không đưa vào danh sách
ứng cử, đề cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2026-2031
gồm:
- Người có biểu
hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, bảo thủ, tư tưởng bè phái, cục bộ,
địa phương.
- Các đối tượng
đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm, đã bị các cơ quan có thẩm quyền
kết luận không trung thực.
- Người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra những vụ, việc tham nhũng, lãng phí, tiêu
cực, mất đoàn kết nghiêm trọng.
Như vậy so với qui
định của Luật bầu cử, thì Chỉ thị số 46-CT/TW đã qui định chặt chẽ hơn nữa tiêu
chuẩn của người ứng cử.
V. TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG CÔNG TÁC BẦU CỬ [22]
1. Quốc hội
- Quyết định ngày bầu
cử toàn quốc đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp. Tuy nhiên, quyết định của Quốc hội phải đảm bảo quy định của
Luật bầu cử là: Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là
115 ngày trước ngày bầu cử.
- Quyết định việc bầu cử bổ sung đại
biểu Quốc hội trong thời gian giữa nhiệm kỳ.
- Quyết định,
thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia.
2.
Hội đồng bầu cử quốc gia: Tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn
công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
3. Ủy ban thường vụ Quốc hội: Thực hiện việc dự
kiến và phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội được bầu; xác định cơ cấu, thành
phần những người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội; hướng dẫn việc xác
định dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử
đại biểu HĐND các cấp; tổ chức giám sát công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và
đại biểu HĐND, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật,
an toàn, tiết kiệm.
4. Chính phủ: Chỉ đạo các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND
các cấp thực hiện công tác bầu cử theo quy định của pháp luật; tổ chức thực
hiện các biện pháp bảo đảm kinh phí, hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí
tổ chức bầu cử, bảo đảm công tác thông tin, tuyên truyền, an ninh, an toàn và
các điều kiện cần thiết khác phục vụ cuộc bầu cử.
5. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Tổ chức hiệp
thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các
cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp.
6. Ủy ban bầu cử ở địa phương
UB bầu cử cấp
tỉnh: Tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội tại địa phương.
Ủy
ban bầu cử các cấp: tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình
(UBBC cấp tỉnh thì tổ chức bầu đại biểu HĐND cấp tỉnh và cấp xã thì bầu đại
biểu cấp xã).
Các Ban bầu cử, tổ
bầu cử thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp theo
quy định của Luật bầu cử.
7. Thường trực Hội đồng nhân
dân
Dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu HĐND của cấp mình.
Thường trực HĐND, UBND các cấp trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và thực hiện
công tác bầu cử theo quy định của Luật bầu cử và các văn bản quy phạm pháp luật
khác có liên quan.
8. Cơ quan nhà nước, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân,
đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế
Có trách nhiệm tạo
điều kiện để các tổ chức phụ
trách bầu cử thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
V.
QUY TRÌNH BẦU CỬ
- Trước tiên, UBTV Quốc hội sẽ dự kiến
cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng đại biểu QH cho các cơ quan trung ương
và ở địa phương; dự kiến cơ cấu, thành phần đại biểu HĐND ở địa phương.
- Trên
cơ sở dự kiến của UBTV Quốc hội, UBMTTQ Việt Nam sẽ tổ chức hội nghị hiệp
thương lần thứ nhất để thoả thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng
người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu ứng cử đại biểu QH.
- Trên cơ sở kết quả Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất,
UBTV Quốc hội sẽ tiến hành điều chỉnh cơ cấu, thành phần đại biểu.
Căn cứ điều chỉnh của UBTV Quốc hội, các cơ quan, đơn vị, tổ
chức được phân bổ đại biểu sẽ tiến hành giới thiệu người của mình ra ứng cử đại
biểu.
Căn cứ kết quả giới thiệu của các cơ quan, đơn vị, tổ chức,
UBMTTQ Việt Nam sẽ tiến hành hội nghị hiệp thương lần thứ hai để lập danh sách
sơ bộ người ứng cử.
- Trên cơ sở danh sách sơ bộ người ứng
cử, UBTV Quốc hội sẽ tiến hành điều chỉnh cơ cấu, thành phần đại biểu lần thứ
hai. Tổ chức Hội nghị cử tri nơi người có tên trong danh sách ứng cử để lấy ý
kiến của cử tri nơi cư trú. Đối với người tự ứng cử có nơi công tác, thì nơi
công tác còn phải tổ chức hội nghị cử tri nơi người tự ứng cử công tác.
- Căn
cứ kết quả điều chỉnh lần thứ hai của UBTVQH và kết quả lấy ý kiến của cử tri
tại hội nghị cử tri, UBMTTQ Việt Nam sẽ tiến hành hội nghị hiệp thương lần thứ
ba để lập danh sách những người ứng cử đủ tiêu chuẩn đại biểu.
- Trên cơ sở danh sách những người ứng
cử đủ tiêu chuẩn đại biểu, Hội đồng bầu cử quốc gia sẽ lập danh sách chính thức
những người ứng cử đại biểu.
Những người có tên trong danh sách
chính thức do Hội đồng bầu cử quốc gia lập sẽ tiến hành vận động bầu cử.
* Đến ngày 15/3/2026, cử tri cả
nước sẽ đồng thời tiến hành bỏ phiếu để bầu đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại
biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Việc bỏ phiếu được tiến hành tại các khu
vực bỏ phiếu, theo đơn vị bỏ phiếu đã được Hội đồng bầu cử quốc gia ấn định
ngay sau khi UBTVQH điều chỉnh dự kiến cơ cấu, thành phần đại biểu lần thứ
nhất.
Sau khi cử tri bỏ phiếu xong sẽ tiến
hành kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử và xác nhận tư cách người trúng cử.
*Trên đây là quy trình một cuộc bầu
cử. Tuy nhiên, nếu kết quả kiểm phiếu mà không bầu đủ số lượng đại biểu thì sẽ
tiến hành bầu cử thêm. Nếu số lượng cử tri đi bầu chưa đạt quá một nửa tổng số
cử tri ghi trong danh sách cử tri hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong
việc bầu cử thì sẽ tiến hành bầu cử lại. Trường hợp trong nhiệm kỳ mà vì lý do
nào đó, số lượng đại biểu không đủ so với đầu nhiệm kỳ thì sẽ tiến hành bầu cử
bổ sung[23].
1. Dự kiến cơ cấu, thành phần
và phân bổ đại biểu QH, đại biểu HĐND
- Tại sao phải phải dự kiến cơ cấu,
thành phần và phân bổ đại biểu?
Bởi vì đại biểu Quốc hội là đại diện
cho cử tri cả nước, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của tất cả Nhân dân. Nếu
như không phân bổ một cách hợp lý sẽ dẫn tới tình trạng cục bộ địa phương, đại
biểu sẽ không đại diện cho tiếng nói của Nhân dân cả nước hoặc Quốc hội hoạt
động thiếu hiệu quả, lợi ích nhóm, cục bộ ngành, cục bộ địa phương...Ví dụ, nếu đại biểu đa số là ở các cơ quan trung
ương sẽ dẫn tới việc không sâu sát, nắm được tình hình của các địa phương. Còn
nếu đại biểu đa số là ở địa phương, hoặc phân bổ giữa các địa phương không hợp
lý sẽ dẫn tới chỉ chú trọng mang lại quyền lợi cho địa phương này mà làm ảnh
hưởng tới địa phương khác.
Để đảm bảo cơ cấu, thành phần đại biểu
hợp lý, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW yêu cầu các cấp uỷ đảng
lãnh đạo, chỉ đạo tốt việc phân bổ cơ cấu, thành phần số lượng đại biểu như
sau:
- Bảo đảm cơ cấu
hợp lý về số đại biểu là người đang công tác ở cơ quan đảng, nhà nước, lực lượng
vũ trang, Mặt trận Tổ quốc.
- Tăng số lượng
đại biểu chuyên trách, bảo đảm tỉ lệ người ứng cử là phụ nữ và người dân tộc
thiểu số theo đúng quy định của Luật bầu cử.
- Có tỉ lệ hợp
lý đại biểu các tôn giáo, đại biểu tái cử, đại biểu trẻ tuổi, các nhà khoa học,
trí thức, văn nghệ sĩ, đại biểu xuất thân từ công nhân, nông dân, doanh nhân và
các hiệp hội, nghiệp đoàn trong sản xuất, kinh doanh.
Trên cơ sở nội
dung của Chỉ thị số 46-CT/TW, UBTV Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số
1891/NQ-UBTVQH15 (10/11/2025) dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần ĐBQH khóa
XVI và Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 (15/10/2025) hướng dẫn việc xác định dự
kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu
HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Nội dung của các
Nghị quyết không chỉ phân bổ số lượng, dự kiến cơ cấu, thành phần của đại biểu
mà còn dự kiến phân bổ số lượng, cơ cấu, thành phần của người được giới thiệu ứng
cử.
Cụ thể như sau:
Theo quy định của Nghị quyết số 1891/NQ-UBTVQH15 (ngày 10/11/2025) thì tổng số đại biểu Quốc hội khoá XVI là 500 người.
Qui định này là phù hợp với qui định của Luật bầu cử về số lượng đại biểu.
Trong đó, dự kiến số lượng đại biểu trung ương giới thiệu là 217 người = 43,4%.
Số lượng đại biểu địa phương giới thiệu là 283 người = 56,6%.
* Cơ cấu ở Trung ương cụ thể như
sau:
- Các cơ
quan Đảng: 10 đại biểu.
- Cơ quan
Chủ tịch nước: 03 đại biểu.
- Các cơ
quan của Quốc hội (đại biểu Quốc hội chuyên trách ở Trung ương): 145 đại biểu.
- Chính
phủ, cơ quan thuộc Chính phủ: 15 đại biểu.
- Bộ Quốc phòng (gồm Bộ trưởng và các quân khu, quân
chủng): 13 đại biểu, phấn đấu có đại biểu là người dân tộc thiểu số; (đối
với Bộ Tư lệnh Quân khu 2, được sự đồng ý của Quân uỷ Trung ương, Quân khu 2 đã
giới thiệu đ/c Thiếu tướng Phạm Hùng Hưng- Phó Tư lệnh Quân khu để ứng cử đại
biểu Quốc hội khoá XVI).
- Bộ Công
an (gồm cả Bộ trưởng Bộ Công an): 03 đại biểu.
- Tòa án
nhân dân tối cao: 01 đại biểu.
- Viện
kiểm sát nhân dân tối cao: 01 đại biểu.
- Kiểm
toán nhà nước: 01 đại biểu.
- Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên: 25 đại biểu, trong đó có đại
biểu là phụ nữ, đại biểu là người dân tộc thiểu số, đại biểu trẻ tuổi (dưới 40
tuổi), đại biểu tôn giáo, đại biểu ngoài đảng, đại biểu tái cử và nhân sỹ trí
thức, văn nghệ sỹ tiêu biểu.
* Cơ cấu ở
địa phương: Định hướng là 179 đại biểu, cơ cấu hướng dẫn là 104 đại biểu.
- Cơ cấu định hướng: Là cơ cấu khung để các tỉnh, thành phố
làm căn cứ để giới thiệu người ứng cử. Cụ thể cơ
cấu định hướng như sau:
+ Lãnh
đạo chủ chốt ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương kiêm Trưởng đoàn đại
biểu Quốc hội là 34 đại biểu.
+ Đại biểu
Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Đoàn đại biểu Quốc hội 55 đại biểu. Trong
đó: 17 tỉnh, thành phố bố trí 01 đại biểu chuyên trách; 13 tỉnh, thành phố bố
trí 02 đại biểu chuyên trách; 04 tỉnh, thành phố bố trí 03 đại biểu chuyên
trách.
+ Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam: 28 đại biểu.
+ Đại
biểu tôn giáo: 06 đại biểu.
+ Quân
đội (bao gồm Bộ Chỉ huy quân sự và Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng cấp tỉnh): 14
đại biểu.
+ Công
an: 9 đại biểu.
+ Tòa án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Sở Tư pháp: 13 đại biểu, trong đó: Tòa án
nhân dân 5 đại biểu; Viện kiểm sát nhân dân 4 đại biểu; Sở Tư pháp 4 đại biểu.
+ Viện
nghiên cứu, trường đại học, học viện: 10 đại biểu.
+ Doanh
nghiệp, hiệp hội, nghiệp đoàn về lĩnh vực sản xuất kinh doanh: 10 đại biểu.
- Cơ cấu hướng dẫn: Là cơ cấu linh hoạt để các tỉnh, thành phố
làm căn cứ để giới thiệu người ứng cử, gồm đại diện các ngành: khoa học -
công nghệ; lao động, thương binh - xã hội; giáo dục, y tế, văn hóa - nghệ
thuật; đại diện chính quyền cơ sở…
Trên đây là cơ cấu, số lượng giữa Trung ương và địa phương.
Để đảm bảo hợp lý thành phần chính trị, xã hội, Nghị quyết
đã hướng dẫn về cơ cấu kết hợp như sau:
* Cơ cấu kết hợp: Cơ cấu kết hợp là các cơ
cấu theo chỉ tiêu kết hợp. Một người ứng cử đại biểu Quốc hội có thể có nhiều
hơn một cơ cấu kết hợp, gồm:
- Đại biểu là Ủy viên BCHTW Đảng khoảng 80 - 90 đồng
chí (16% - 18%), trong đó có 12 - 14 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban
Bí thư.
- Đại
biểu là người ngoài Đảng: Từ 25-50 đại biểu (5% - 10%).
- Đại
biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi): Khoảng 50 đại biểu (10%).
- Đại
biểu tái cử: Khoảng 160 đại biểu (32%).
- Đại
biểu là người dân tộc thiểu số bảo đảm tỷ lệ ít nhất 18% tổng số người trong
danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là người dân tộc
thiểu số. Chú ý đến các dân tộc ít người chưa tham gia đại biểu Quốc hội.
- Đại
biểu là phụ nữ bảo đảm tỷ lệ ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính
thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.
* Số lượng đại biểu được bầu tại các tỉnh,
thành phố.
- Nguyên
tắc phân bổ
+ Mỗi
tỉnh, thành phố có ít nhất là 04 đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương.
+ Số
lượng đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương,
bảo đảm tổng số đại biểu Quốc hội dự kiến được bầu là 500 đại biểu.
+ Bảo đảm
mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất là 07 đại biểu.
- Dự kiến phân bổ số
đại biểu trung ương về ứng cử ở địa phương theo nguyên tắc:
+ Đoàn
đại biểu Quốc hội có 07 đến 10 đại biểu thì có 3- 4 đại biểu trung ương.
+ Đoàn đại biểu Quốc hội có 11 đến 15 đại biểu thì
có 5- 6 đại biểu trung ương.
+ Đoàn đại biểu Quốc hội có 16 đến 17 đại biểu thì
có 7-8 đại biểu trung ương.
+ Đoàn đại biểu Quốc hội có 18 đến 19 đại biểu thì
có 8-9 đại biểu trung ương.
+ Đoàn
đại biểu Quốc hội có 21 đại biểu thì có 9-10 đại biểu trung ương.
+ Đoàn đại biểu Quốc hội có 32 đến 38 đại biểu thì
có 15-17 đại biểu trung ương.
2. Số
lượng đại biểu Quốc hội khóa XVI dự kiến được bầu ở các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (Đề nghị các đồng chí nghiên cứu thêm tại phụ lục Nghị quyết số 1891/NQ-UBTVQH15 ngày 10/11/2025 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc
hội).
Về dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người
được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, các đ/c tự
nghiên cứu Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 15/10/2025 của UBTVQH.
2.
Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất
Trên cơ
sở dự kiến của UBTVQH chậm nhất là 95 ngày trước ngày bầu cử, MTTQVN sẽ tổ chức
hội nghị hiệp thương lần thứ nhất để thoả thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng
người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu ứng cử đại biểu QH (ở Trung
ương do Đoàn chủ tịch UBTWMTTQVN tổ chức. Còn ở địa phương, do Ban thường trực
UBMTTQVN cấp tỉnh tổ chức).
Ngày 26/9/2025,
Ủy ban Thường vụ QH, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch UBTW MTTQVN ban hành Nghị
quyết liên tịch số 102/2025/NQ liên tịch hướng dẫn quy trình hiệp thương
giới thiệu người ứng cử đại biểu QH khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp
nhiệm kỳ 2026-2031 đã xác định hội nghị hiệp thương lần thứ nhất được tổ
chức trong khoảng thời gian từ ngày 01- 10/12/2025.
3.
Điều chỉnh lần thứ nhất cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng
cử: Thống nhất với kết quả hội nghị hiệp thương lần
thứ nhất, chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử, UBTVQH điều chỉnh lần thứ
nhất cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử (của cả trung
ương và địa phương).
4.
Giới thiệu người ứng cử
Trên cơ sở điều
chỉnh lần thứ nhất của UBTVQH về cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới
thiệu ứng cử, các cơ quan tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương sẽ tiến
hành lựa chọn, giới thiệu người của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình ứng cử đại
biểu QH. Sau khi lựa chọn xong, sẽ tổ chức lấy ý kiến tại Hội nghị cử tri của
cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở ý kiến của hội nghị cử tri, lãnh đạo, chỉ huy cơ
quan, đơn vị tổ chức hội nghị gồm lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, đại diện ban chấp
hành công đoàn, đại diện quân nhân và chỉ huy cấp dưới trực tiếp (đối với đơn
vị vũ trang nhân dân) để thảo luận, giới thiệu người của đơn vị mình ứng cử đại
biểu QH.
5.
Tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai
Mục đích của hội
nghị hiệp thương lần thứ hai là để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại
biểu trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của UBTVQH và kết quả giới thiệu của
các cơ quan, tổ chức đơn vị. Sau đó, gửi lấy ý kiến của cử tri nơi người ứng cử
cư trú. Đối với người tự ứng cử, còn phải gửi lấy ý kiến cử tri nơi người đó
công tác. Thời gian: Chậm nhất là 40 ngày (Luật cũ 65 ngày) trước
ngày bầu cử.
6.
Điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu (lần thứ hai)
Trên cơ sở kết quả
hội nghị hiệp thương lần thứ hai, chậm nhất 38 ngày (Luật cũ 55 ngày)
trước ngày bầu cử, UBTVQH sẽ tiến hành điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng
người được giới thiệu ứng cử đại biểu.
7. Tổ chức hội nghị cử tri
Sau khi người được
giới thiệu và người tự ứng cử được hội nghị hiệp thương lần thứ hai đưa vào
danh sách sơ bộ, và gửi danh sách này tới nơi cư trú (hoặc nơi công tác đối với
người tự ứng cử) của người có tên trong danh sách để tổ chức hội nghị cử tri.
* Cấp có thẩm
quyền tổ chức:
- Hội nghị cử tri
nơi cư trú: Do Ban thường trực UBMTTQVN cấp xã
phối hợp với UBND cùng cấp để tổ chức.
- Hội nghị cử tri
nơi công tác: Do người đứng đầu nơi công tác tổ chức.
- Hội nghị cử tri ở đơn vị vũ trang nhân
dân là hội nghị quân nhân do lãnh đạo, chỉ huy đơn vị triệu tập và chủ trì.
* Nơi tổ chức: Hội nghị cử tri
nơi cư trú: Thôn, tổ dân phố nơi người ứng cử cư trú thường xuyên để lấy ý
kiến. Hội nghị cử tri nơi công tác: Tổ chức tại nơi công tác.
* Nội dung:
- Cử tri được nghe
giới thiệu về người ứng cử.
- Đối chiếu tiêu
chuẩn đại biểu để nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử.
- Hình thức tín
nhiệm: Giơ tay hoặc bỏ phiếu kín.
8. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba
- Tổ chức chậm
nhất là 23 ngày (Luật cũ là 35 ngày) trước ngày bầu cử.
- Mục đích: Lập danh sách
những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu để gửi tới Hội đồng bầu cử quốc gia
và UBTVQH.
- Căn cứ lập danh
sách:
+ Tiêu chuẩn của
đại biểu.
+ Cơ cấu, thành phần,
số lượng người được giới thiệu ứng cử đã được UBTVQH điều chỉnh lần thứ hai.
+ Kết quả lấy ý
kiến cử tri tại hội nghị cử tri nơi cư trú, nơi công tác (đối với đại biểu tự
ứng cử).
9. Lập, gửi, công bố, niêm yết danh sách người
ứng cử đại biểu
- Chậm nhất là 21
ngày (Luật cũ 30 ngày) trước ngày bầu cử, danh sách người ứng cử
phải được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia và UB bầu cử ở tỉnh.
- Sau khi nhận
được danh sách người ứng cử, HĐBCQG gửi danh sách và hồ sơ những người được
giới thiệu về ứng cử tại địa phương.
- Chậm nhất là 17
ngày (Luật cũ 25 ngày) trước ngày bầu cử, HĐBCQG lập và công bố danh
sách chính thức những người ứng cử đại biểu QH theo từng đơn vị bầu cử trong cả
nước.
- Danh sách chính
thức phải ghi rõ họ, tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, quê quán, nơi thường
trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp, chức vụ nơi
công tác của người ứng cử. Danh sách tại từng đơn vị bầu cử được xếp theo vần
chữ cái A, B, C…
- Trên cơ sở danh
sách của HĐBCQG, chậm nhất là 16 ngày (Luật cũ 20 ngày) trước
ngày bầu cử, UBBC ở tỉnh phải công bố danh sách người ứng cử đại biểu QH ở địa
phương mình.
10. Vận động bầu cử
- Người ứng cử
thực hiện vận động bầu cử trong thời gian từ ngày bắt đầu danh sách chính thức
và kết thúc trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ.
- Hình thức vận
động: Thông qua hội nghị tiếp xúc cử tri và thông qua phương tiện thông tin đại
chúng.
- Nội dung vận
động: Báo cáo với cử tri về chương trình hành động của mình nếu được bầu làm
đại biểu.
- Hành vi bị
nghiêm cấm trong vận động bầu cử:
+ Lợi dụng vận
động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại
đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá
nhân khác.
+ Lạm dụng chức
vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.
+ Lợi dụng vận
động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước
và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.
+ Sử dụng hoặc hứa
tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử
tri.
11. Bỏ phiếu
Cử tri sẽ
tiến hành bỏ phiếu tại các khu vực bỏ phiếu, theo đơn vị bầu cử.
11.1. Đơn vị bầu cử
Các đại biểu Quốc hội và đại biểu
HĐND được bầu theo đơn vị bầu cử.
- Tỉnh, thành phố
được chia thành các đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội.
- Số đơn vị bầu
cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi
đơn vị bầu cử được tính căn cứ theo số dân, do Hội đồng bầu cử quốc gia ấn định
theo đề nghị của Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố và được công bố chậm nhất là
80 ngày trước ngày bầu cử.
- Tỉnh, thành phố được chia thành
các đơn vị bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh. Xã, phường, đặc khu được chia thành
các đơn vị bầu cử đại biểu HĐND cấp xã.
- Số đơn vị bầu cử
đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp xã, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại
biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử do Ủy ban bầu cử ở cấp đó ấn định theo đề
nghị của UBND cùng cấp và được công bố chậm nhất là 80 ngày trước ngày bầu cử.
Theo Nghị quyết số 85/NQ-HĐBCQG (15/12/2025) của Hội đồng
bầu cử quốc gia về số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng
đại biểu QH được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, thì các đại biểu QH khoá XVI sẽ được bầu ở 182 đơn vị bầu cử/34 tỉnh
thành. Mỗi đơn vị bầu cử sẽ bao gồm một một số phường, xã.
VD như tỉnh Phú Thọ: số đơn vị bầu cử
là 06, số lượng đại biểu QH được bầu là 07. Trong đó, cán bộ, chiến sĩ các cơ
quan Quân khu sẽ tiến hành bầu ba đại biểu Quốc hội ở đơn vị số 1 (gồm các
phường: Việt Trì, Nông Trang, Thanh Miếu, Vân Phú và các xã: Hy Cương, Lâm
Thao, Xuân Lũng, Phùng Nguyên, Bản Nguyên, Thanh Thủy, Đào Xá, Tu Vũ, Tam Nông,
Thọ Văn, Vạn Xuân, Hiền Quan, Thanh Sơn, Võ Miếu, Văn Miếu, Cự Đồng, Hương Cần,
Yên Sơn, Khả Cửu, Tân Sơn, Minh Đài, Lai Đồng, Xuân Đài, Long Cốc, Thu Cúc).
11.2. Khu vực bỏ phiếu
- Mỗi đơn vị bầu
cử đại biểu Quốc hội, đơn vị bầu cử đại biểu HĐND chia thành các khu vực bỏ
phiếu. Khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội
đồng thời là khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu HĐND các cấp.
- Mỗi khu vực bỏ
phiếu có từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri. Ở miền núi, vùng cao, hải đảo và
những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có đủ ba trăm cử tri cũng được
thành lập một khu vực bỏ phiếu.
- Các trường hợp có thể thành lập khu vực bỏ
phiếu riêng:
+ Đơn vị vũ trang
nhân dân.
+ Bệnh viện, nhà
hộ sinh, nhà an dưỡng, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc người
cao tuổi có từ năm mươi cử tri trở lên.
+ Cơ sở giáo dục
bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, trại tạm giam.
(Việc bố trí địa điểm bỏ phiếu được hướng dẫn
bởi Điều 13 Thông tư số 21/2025/TT-BNV ngày 12/10/2025 của Bộ Nội vụ hướng dẫn nghiệp vụ công tác tổ chức bầu cử
đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031).
11.3. Bỏ phiếu [24]
* Nguyên tắc bỏ phiếu được qui
định như sau:
- Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu
bầu đại biểu HĐND tương ứng với mỗi
cấp HĐND.
- Cử tri phải tự
mình, đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp qui định
tại khoản 3 và khoản 4 Điều 69 Luật bầu cử; khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử
tri.
- Cử tri không thể
tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu;
người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì
khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
- Trong trường hợp
cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu
cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện
việc bầu cử. Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại
tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu
vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ
bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở
giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực
hiện việc bầu cử.
- Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.
- Nếu viết hỏng,
cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.
- Khi cử tri bỏ
phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.
- Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu.
* Về thông báo về thời gian bầu
cử, nơi bỏ phiếu
Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải thường xuyên thông
báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu bằng hình
thức niêm yết, phát thanh và các phương tiện thông tin đại chúng khác của địa
phương.
- Việc bỏ phiếu
bắt đầu từ 07 giờ đến 19 giờ cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có
thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước 05 giờ
sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 21 giờ cùng ngày.
- Trước khi bỏ
phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri.
- Việc bỏ phiếu
phải được tiến hành liên tục. Trong trường
hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử
phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu
cử, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử, đồng thời phải có những biện pháp cần
thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.
* Về bỏ phiếu sớm, hoãn ngày bỏ phiếu
Trường hợp đặc
biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày qui định thì Ủy ban bầu cử trình Hội đồng bầu cử quốc gia
xem xét, quyết định.
12. Kiểm phiếu[25]
- Việc kiểm phiếu
phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc.
Trước khi mở hòm
phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số phiếu bầu không sử
dụng đến và phải mời hai cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến việc kiểm
phiếu.
Người ứng cử, đại
diện cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử hoặc người được ủy nhiệm
có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các phóng
viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.
(Những đối tượng này được hướng dẫn
cụ thể tại Công văn số 1129/UBTVQH13-PL ngày
17/5/2016 của UBTVQH v/v hướng dẫn Điều 73 của Luật bầu cử)
* Phiếu bầu không hợp lệ bao gồm: a) Phiếu không
theo mẫu qui định do Tổ bầu cử phát ra; b) Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử; c)
Phiếu để số người được bầu nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho
đơn vị bầu cử; d) Phiếu gạch xóa hết tên những người ứng cử; đ) Phiếu ghi thêm
tên người ngoài danh sách những người ứng cử hoặc phiếu có ghi thêm nội dung
khác.
Trường
hợp có phiếu bầu được cho là không hợp lệ thì Tổ trường Tổ bầu cử đưa ra
để toàn Tổ xem xét, quyết định. Tổ bầu cử không được gạch xóa hoặc sửa các tên
ghi trên phiếu bầu. (Điều 74 Luật Bầu cử)
- Sau khi kiểm
phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập các loại biên bản sau đây: Biên bản kết quả
kiểm phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội tại khu vực bỏ phiếu; biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử đại biểu HĐND cấp
tỉnh tại khu vực bỏ phiếu; biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử đại biểu HĐND cấp
xã tại khu vực bỏ phiếu.
Mỗi loại biên bản
được lập thành ba bản, có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký Tổ bầu cử và hai cử tri
được mời chứng kiến việc kiểm phiếu. Biên bản được gửi đến Ban bầu cử tương ứng
và UBND, Ban thường trực UBMTTQVN
cấp xã chậm nhất là 03 ngày sau ngày bầu cử.
- Biên bản kết quả
kiểm phiếu phải có các nội dung sau đây: Tổng số cử tri của khu vực bỏ phiếu; số
lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu; số phiếu phát ra; số phiếu thu vào; số phiếu
hợp lệ; số phiếu không hợp lệ; số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử; những khiếu
nại, tố cáo nhận được; những khiếu nại, tố cáo đã giải quyết và kết quả giải
quyết; những khiếu nại, tố cáo chuyển đến Ban bầu cử.
13. Nguyên tắc xác định người trúng cử [26]
- Kết quả bầu cử được tính, trên số phiếu bầu hợp lệ và
chỉ được công nhận khi đã có quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri
tại đơn vị bầu cử tham gia bầu cử, trừ trường hợp bầu cử lại.
- Người trúng cử phải là người ứng cử đạt số phiếu bầu
quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ.
- Trường hợp số người ứng
cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ nhiều hơn số lượng đại
biểu mà đơn vị bầu cử được bầu thì những người trúng cử là những người có số
phiếu bầu cao hơn.
- Trường hợp cuối danh sách trúng cử có nhiều người được
số phiếu bầu bằng nhau và nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho
đơn vị bầu cử thì người nhiều tuổi hơn
là người trúng cử. (Điều 78 Luật bầu cử)
14. Công bố kết quả bầu cử và danh sách những
người trúng cử [27]
Hội đồng bầu cử
quốc gia căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước công bố kết quả
bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là 10 ngày
sau ngày bầu cử.
Ủy ban bầu cử căn
cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những
người trúng cử đại biểu HĐND ở cấp mình chậm nhất là 10 ngày sau ngày bầu cử.
15. Xác nhận tư cách của người
trúng cử [28]
Căn cứ vào kết quả tổng kết bầu cử đại biểu kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo
liên quan đến người trúng cử đại biểu Hội đồng bầu cử quốc gia (UB bầu cử) tiến
hành xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Quốc hội (HĐND), cấp giấy
chứng nhận đại biểu Quốc hội (HĐND) khóa mới cho người trúng cử và báo cáo Quốc
hội (HĐND) khóa mới về kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội (HĐND) tại kỳ
họp đầu tiên.
16. Bầu cử thêm [29]
Trong cuộc bầu cử
đầu tiên, nếu số người trúng cử đại biểu Quốc hội chưa đủ số lượng đại biểu
được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử hoặc số người trúng cử đại biểu HĐND chưa
đủ hai phần ba số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ
vào biên bản xác định kết quả bầu cử thì sẽ tiến hành bầu cử thêm đại biểu.
Thời gian (ngày)
bầu cử thêm được tiến hành chậm nhất là 07 ngày (Luật cũ 15 ngày)
sau ngày bầu cử đầu tiên.
Trong cuộc bầu cử
thêm, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử
đầu tiên nhưng không trúng cử. Người trúng cử là người được quá một nửa tổng số
phiếu bầu hợp lệ và có số phiếu bầu cao hơn. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số
lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.
17. Bầu cử lại [30]
Việc bầu cử lại được tiến hành khi đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu
chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri hoặc khu vực bỏ
phiếu, đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc tổ chức bầu
cử.
Trong cuộc bầu cử
lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu
tiên. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử
tri trong danh sách cử tri thì kết quả
bầu cử lại được công nhận mà không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.
Trong trường hợp
bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 07 ngày (Luật
cũ 15 ngày) sau ngày bầu cử đầu tiên.
18. Bầu cử bổ sung [31]
Việc bầu cử bổ
sung đại biểu Quốc hội được tiến hành khi thời gian còn lại của nhiệm kỳ nhiều
hơn 02 năm và thiếu trên mười phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội đã được bầu ở
đầu nhiệm kỳ.
Bầu cử bổ sung đại
biểu HĐND được tiến hành khi thời gian còn lại của nhiệm kỳ nhiều hơn 18 tháng
và đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
- HĐND thiếu trên
một phần ba tổng số đại biểu HĐND đã được bầu ở đầu nhiệm kỳ;
- Đơn vị hành
chính mới được thành lập trên cơ sở nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị
hành chính hiện có có số lượng đại biểu HĐND không đủ hai phần ba tổng số đại
biểu được bầu theo qui định của Luật tổ chức chính quyền địa phương.
Ngày bầu cử bổ
sung phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu
cử.
KẾT LUẬN
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND có ý nghĩa, vai trò hết sức
quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước Pháp quyền XHCN Việt
Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại
diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm
kỳ mới sẽ góp phần phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; đưa đất nước vượt qua
những khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
XIV đã đề ra.
Một trong những điều kiện tiên quyết để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội
khoá XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 thành công, thì mỗi cử tri
cần phải nắm vững qui định của Luật bầu cử, đặc biệt là các nguyên tắc bầu cử,
tiêu chuẩn của người ứng cử cũng như quyền của cử tri, đảm bảo cuộc bầu cử diễn
ra theo đúng qui định của pháp luật./.
[1] Điều 69 Hiến pháp; Điều 1
Luật Tổ chức Quốc hội;
[2] Điều 69 Hiến pháp; Điều 1
Luật Tổ chức Quốc hội;
[3] Điều 70 Hiến pháp; từ Điều
4 đến Điều 20 Luật Tổ chức Quốc hội
[4] Điều 21 Luật Tổ chức Quốc
hội
[5] Từ Điều 26 đến Điều 28 Luật
Tổ chức Quốc hội
[6] Từ Điều 29 đến Điều 37 Luật
Tổ chức Quốc hội
[7] Điều 39 Luật Tổ chức Quốc
hội
[8] Khoản 1 Điều 113 Hiến pháp và khoản 1 Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền
địa phương
[9] Khoản 2 Điều 5 Luật Tổ chức
chính quyền địa phương
[10] Điều 115 Hiến pháp
[11] Khoản 1 Điều 7 Hiến pháp;
Điều 1 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[12] Điều 2, Điều 3; khoản 4
Điều 29; khoản 1 Điều 30 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND
[13] Khoản 1 Điều 30 Luật bầu
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND
[14] Điều 29 Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu HĐND
[15] Các khoản 2, 3, 4, 5 Điều
30 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[16] Điều 31 Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[17] Điều 32 Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[18] Điều 2, Điều 3 Luật bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[19] Điều 22 Luật Tổ chức Quốc
hội
[20] Khoản 3 Điều 5 Luật Tổ chức
chính quyền địa phương
[21] Điều 37 Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[22] Điều 4 Luật bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[23] Điều 89 Luật bầu cử
[24] Từ Điều 69 đến Điều 72 Luật
bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[25] Các Điều 73, 74, 76 Luật
bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[26] Điều 78 Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[27] Điều 86 Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[28] Điều 88 Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[29] Điều 79 Luật bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[30] Điều 80, Điều 81 Luật bầu
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
[31] Điều 89 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

0 Nhận xét